truyện VN Ở ĐÂY

Trang 1 trong tổng số 3 trang 1, 2, 3  Next

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

truyện VN Ở ĐÂY

Bài gửi by go19932008 on 21/1/2008, 8:02 pm

Với một mình tôi,có lẽ ko thể kể hết tất cả các câu chuyện cổ tích,truyền thuyết... của VN.Rất mong các bạn có thể ủng hộ topic này,làm cho những câu chuyện cổ tích của VN được nhiều người biết đến,để ko mất cội,mất nguồn.Thân!

go19932008
Quyền Trượng Hồng Ngọc
Quyền Trượng Hồng Ngọc

Tổng số bài gửi : 1021
Age : 23
Registration date : 23/12/2007

Xem lý lịch thành viên http://hoicovay.com

Về Đầu Trang Go down

Re: truyện VN Ở ĐÂY

Bài gửi by go19932008 on 21/1/2008, 8:37 pm

Bát Nàn Công Chúa
Thời
nhà Hán đô hộ, vùng Phượng Lâu, Đức Bác thuộc huyện Phù Ninh tỉnh Vĩnh
Phú ngày nay là một trang ấp lớn dưới quyền ông Vũ Chất và bà Hoàng Thị
Mẫu cai quản. Ngoài công việc nông trang ông bà còn biết nhiều bài
thuốc chữa chạy cho những ai đau yếu bệnh tật, nên được dân chúng khắp
vùng mến phục.

Nàng Thục Nương, con gái của ông bà, là
người tài đức, có võ nghệ cao cường, lại có dung mạo xinh đẹp tuyệt
vời. Đến tuổi trưởng thành Thục Nương hứa hôn với Phạm Danh Hương là
một chàng trai anh tuấn, con của vị huyện trưởng Nam Châu.

Tiếng
đồn về tài sắc của Thục Nương đến tai thái thú Tô Định của quận Giao
Chỉ. Y sai bày tiệc rượu rồi cho mời ông Vũ Chất đến để cầu thân. Ông
Vũ Chất từ chối, nói là con gái mình sắp lấy chồng. Tô Định không tin,
liền sai mời cả Phạm Danh Hương cùng đến. Y nói với ông Vũ: nếu đúng
như vậy thì y sẽ đứng ra làm chủ hôn.

Giữa bữa tiệc, Tô
Định ra ám hiệu hất chén rượu, thế là bọn thủ hạ trực saÜn hai bên lập
tức xông ra lôi tuột ông Vũ Chất và Phạm Danh Hương đem giết đi. Sau đó
Tô Định cho một toán quân đến trang Phượng Lâu để bắt Thục Nương đem về
dinh.

Nhưng người thân tín theo ông Vũ Chất vào dinh Tô
Định đã nhanh chân chạy về báo trước. Thục Nương vô cùng căm giận, vội
thu xếp cho mẹvà gia quyến đi trước, còn tự mình thì ở lại chờ giặc.

Khi
quân Tô Định tới nơi, thục Nương múa song kiếm xông ra, tên cầm đầu
cùng mấy tên nữa bị giết. Những tên còn lại hoảng hốt bỏ chạy. Thục
nương cũng vội thu xếp tư trang hành lý, rồi mau chóng lánh mình.

Nàng
đi mãi đi mãi ... xuống phía Nam. Khi tới một ngôi chùa nhỏ ở ấp Tiên
La bên bờ sông Thiên Đức, thuộc địa phận tỉnh Thái Bình ngày nay, thì
dừng lại.

Đêm ấy các vị bô lão trong ấp Tiên La đều nằm
mộng thấy thần thành hoàng đến báo có vị thượng nhân ở nơi khác tới
chùa. Sáng hôm sau các vị bô lão kéo đến tập trung trước sân chùa. Một
số người mở cửa vào trong thấy sau ngôi tam bảo có một người con gái
đang đứng, tay cầm song kiếm. Thục Nương lúc ấy nghe có tiếng động
tưởng quân Tô Định đến bao vây, liền đứng vào thế thủ sẳn sàng chiến
đấu.

Thấy vậy các vị bô lão và đân làng vội vàng quỳ xuống, kể lại giấc mộng đêm
qua. Thục Nương cảm động cũng quỳ xuống đáp lễ, rồi thuật lại gia cảnh
của mình. Tất cả đân làng đều nhất tề hãy ở lại làm ăn sinh sống để chờ
thời cơ giết giặc, bởi vì sưu cao thuế nặng và sự dã man tàn bạo của
quân thù làm cho ai nấy đều căm giận trong lòng.

Thấy mọi người đồng tâm đồng ý, lại thấy nơi đây địa hình thuận lợi có thể lập căn cứ được, Thục Nương đã vui lòng ở lại.

Từ
đó Thục Nương trông coi chùa Tiên La. Nàng xuống tóc đi tu nhưng tâm
trí thì lúc nào cũng nấu nung đến nợ nước trả thù nhà. Vốn là người có
võ nghệ cao cường, lại tinh thông nhiều trận pháp nên Thục Nương bắt
tay vào việc tập luyện cho dân làng. Thế là mọi người lo sắm sửa khí
giới, chuẩn bị lương thực và đêm đêm lại tập luyện võ nghệ, trận pháp. Các làng xung quanh biết tin cũng kéo đến ngày đêm
mỗi đông. Dần ấp Tiên La trở thành một căn cứ lớn, có mấy ngàn dân
binh, được trang bị khí giới đầy đủ, lại tinh thông võ nghệ và các trận
pháp. Thục Nương phất cờ khởi nghĩa, được dân chúng tôn xưng là Bát Nàn
đại tướng quân, đã giao chiến nhiều trận với giặc và thu được nhiều
thắng lợi .

Lúc ấy Hai Bà Trưng đã dấy binh ở Mê Linh, chuẩn bị đánh thành Luy Lâu, cho sứ giả đi khắp nơi truyền lệnh khởi nghĩa ...

Khi
sứ giả đến Tiên La thì Bát Nàn tướng quân đã hay tin ở Mê Linh có cuộc
khởi nghĩa. Còn đang băn khoăn đem quân đến Mê Linh hay cứ ở lại độc
lập tác chiến thì một đêm
đang ngủ Bát Nàn mộng thấy một nữ thần xuất hiện, tay cầm lá cờ xan. Nữ
thần nói tuân lệnh ngọc hoàng xuống trao cho bà lá cờ, rồi lại đọc bốn
câu thơ:


Nữ binh, nữ tướng
Thiên dĩ định danh
Vật khả độc lập

Sự nãi bất thành


Tạm dịch:

(Tướng gái quân gái
Trời đã định danh
Chớ đứng một mình
Việc không thành được)


Đọc
xong nữ thần biến mất. Bát Nàng tướng quân tỉnh dậy và hiểu là mình
phải quyết định thế nào. Mấy hôm sau có sứ giả đến, Bà sai thù tiếp rồi
ngay sau đó tập hợp binh sĩ tiến về Mê Linh tụ nghĩa.

Thấy Bát Nàng tướng quân đến Hai Bà Trưng vô cùng mừng rỡ.
Đây là một lực lượng hùng mạnh lại dưới quyền chỉ huy của vị
danh tướng tài ba. Sau mấy ngày hội quân, Hai Bà giao cho Bát
Nàn lĩnh đạo quân tiên phong tiến đánh Luy Lâu. quả danh bất
hư truyền, mỗi khi song kiếm của Bát Nàn tướng quân múa tới
đâu là đầu giặc rơi tới đó, quân Hán về sau chỉ vừa trông thấy
đã phải bỏ chạy .

Thành
Luy Lâu và các thành khác bị hạ, Hai Bà Trưng xưng vương, phong thêm
Bát Nàn tướng quân là Trinh Thục công chúa, cho hưởng thực ấp và quản
lĩnh cả hai nơi là Tiên La (Thái Bình) và Phượng Lâu (Vĩnh Phú).

Khi Mã Viện kéo quân sang xâm lược, sau trận Lãng Bạc, Hai Bà
Trưng rút về Cẩm Khê, Bát Nàn tướng quân cũng rút về Tiên
La. Tại đây khi thấy tình thế đang lúc khó khăn, bà cho giải
tán lực lượng, ai về nhà ấy làm ăn sinh sống, để chờ thời
cơ, còn bà, tự mình cũng về tu trong chùa cũ.

Tuy vậy, bà và các thủ lĩnh vẫn thỉnh thoảng gặp gỡ nhau để bàn bạc đại sự.

Quân giặc vẫn ngày đêm cho lính đi dò la tin tức của bà. Một đêm trăng sáng khi bà đang
cùng mọi người họp mặt thì quân giặc bỗng ở đâu ập tới. Chúng kéo mỗi
lúc một đông. Bát Nàn tướng quân múa song kiếm tử chiến với giặc. Bà tả
xung hữu đột, phá vòng vây rồi chạy tới một gốc cây tùng. Tại đây do
vết thương quá nặng nên bà đã gục xuống và hóa. Đó là lúc rạng sáng ngày 18 tháng 3 âm lịch.

Sau này, mọi người Tiên La đã lập đền thờ bà ngay tại gốc cây
tùng đó và lấy ngày bà tử nạn làm ngày lễ.

Các làng Phượng Lâu, Đức Bát ở Vĩnh Phú cũng lập đền thờ bà. Các triều đại trước kia đều có sắc thượng phong cho bà.

go19932008
Quyền Trượng Hồng Ngọc
Quyền Trượng Hồng Ngọc

Tổng số bài gửi : 1021
Age : 23
Registration date : 23/12/2007

Xem lý lịch thành viên http://hoicovay.com

Về Đầu Trang Go down

Re: truyện VN Ở ĐÂY

Bài gửi by go19932008 on 21/1/2008, 9:47 pm

2 bà trưng
Hai
Bà Trưng Trắc, Trưng Nhị là hai chị em ruột, con gái vị Lạc tướng
ở huyện Mê Linh (nay là vùng Sơn Tây cũ và tỉnh Vĩnh Phú), thuộc
dòng dõi Hùng Vương.

Hai Bà là những phụ nữ tài cao đức
trọng và có đảm lược hơn người. Năm 19 tuổi, bà Trưng Trắc kết
duyên cùng ông Thi Sách, con trai Lạc tướng huyện Chu Diên
(nay là Hà Nam và Nam Hà), cũng là một người bất khuất, có
ý chí quật cường.

Thuở ấy, dân ta sống dưới ách đô hộ của người Hán vô cùng cực khổ.

Nhà Đông Hán chia nước ta thành quận
huyện. Đứng đầu mỗi quận là một viên Thái thú người Hán, còn
dưới mỗi huyện phần lớn vẫn để các Lạc tướng người Việt trông
coi, theo chính sách "dùng tục cũ mà cai trị".

Nhưng "dùng tục cũ" cũng chỉ là cái
vỏ và chẳng được bao lâu. Bọn cai trị vốn lòng tham không đáy,
càng ngày càng vươn dài cánh tay xuống bên dưới bóp hầu bóp
cổ dân ta. Nào xuống biển mò ngọc trai, lên rừng săn sừng tê,
ngà voi. Rồi tô, thuế. Còn chiếm cả đất lập trang trại. Lại
độc chiếm luôn sản xuất và buôn bán muối ...

Các Lạc tướng cũng bị đối xử tàn tệ. Hạch sách, vòi vĩnh, cấm đoán, xỉ mắng đủ điều.

Hai gia đình Lạc tướng thông gia với
nhau , vốn căm thù sâu sắc bè lũ xâm lược, cùng nhau bàn định
rồi chuẩn bị lực lượng, tập hợp dân chúng, rèn đúc vũ khí ...
Nhưng sắp đếùn ngày khởi nghĩa thì công việc bại lộ. Thi Sách
bị viên Thái thú Tô Định tàn ác, kẻ mới sang thay Tích Quang,
giết chết.

Không hề nao núng, Hai Bà Trưng vẫn
tiếp tục sự nghiệp mà Thi Sách đã để lại. Tháng 3 năm 40 (theo
dương lịch), Hai Bà phất cờ khởi nghĩa ở Mê Linh.

Trước
đó trên mọi miền đất nước, đã có những cuộc nổi dậy lẻ tẻ. Nay nghe tin
hai Bà, vốn là dòng Hùng Vương dấy nghiệp, đều nhất tề đứng lên, Mê
Linh đã trở thành nơi tụ nghĩa của đồng bào cả nước.

Từ Mê Linh, nghĩa quân tiến đánh Luy
Lâu (thuộc Thuận Thành, Hà Bắc) là thủ phủ của chính quyền
Đông Hán ở Giao Chỉ. Thành Luy Lâu bị hạ, Tô Định phải cắt
tóc cạo râu, ăn mặc giả làm con gái, tìm đường lẻn trốn
về Nam Hải (thuộc Quảng Tây, Trung Hoa).

Từ Luy Lâu, nghĩa quân tiến đánh nhiều
phủ huyện khác, phối hợp với lực lượng nổi dậy ở các địa phương.
Bọn quan lại ở Đông Hán hoảng sợ, có nơi mới chỉ nghe tin nghĩa
quân đang đến, đã phải bỏ lại cả của cải, ấn tín, giấy tờ
... để cốt chạy tháo thân về nước.

"65
huyện thành", nghĩa là toàn bộ nước ta hồi đó đã sạch bóng quân xâm
lược. Bà Trưng Trắc được tất cả các tướng sĩ và quân lính suy tôn lên
làm vua, đóng đô ở Mê Linh. Bà Trưng Nhị và các tướng lĩnh khác đều
được phong tước, chia nhau ra giữ các miền xung yếu. Hai năm liền, mọi
người cả nước được miễn tất cả các khoản sưu thuế.

Đất nước độc lập, nhưng tính về so
sánh lực lượng giữa ta và địch thì hãy còn quá chênh lệch. Sau
khi thống nhất Trung Hoa, tất cả các chư hầu xung quanh đều phải
phục tùng nhà Hán, và đế chế Hán lúc bấy giờ ở vào thời
kỳ thịnh đạt nhất của nó.

Tin Hai Bà Trưng khởi nghĩa và xưng
vương đã làm chấn động cả vương triều Hán. Hán Quang Vũ vô cùng
tức giận, lập tức hạ lệnh bắt các quận miền Nam (Trung Hoa)
lo trưng tập binh mã, sắm sửa thuyền bè khí giới, sửa sang đường
sá, tích trữ lương thảo ... để chuẩn bị đánh chiếm lại nước ta.

Tháng 4 năm 42, vua nhà Hán phong Mã
Viện làm "phục ba tướng quân" đem hai vạn quân cùng hai nghìn
thuyền xe, vừa thủy vừa bộ, từ Hợp phố (Quảng Đông) tiến thẳng
vào vùng Lãng Bạc (Tiên Sơn, Hà Bắc). Mã Viện là viên tướng
già có nhiều mưu gian kế hiểm, và thuộc vào loại sừng sỏ nhất
của nhà Hán thời đó. Một tay y đã từng đánh dẹp người Khương
và àn áp các cuộc khởi nghĩa trong nước.

Hai Bà Trưng cùng các tướng lĩnh xuất
phát từ Mê Linh xuống Lãng Bạc chống giặc. Tại đây một cuộc
chiến đấu ác liệt đã diễn ra. Cuối cùng quân ta yếu thế hơn
phải rút lui về Cẩm Khê (Yên Lạc, Vĩnh Phú). Mã Viện đem
quân đuổi theo. Tại Cẩm Khê và các vùng lân cận lại diễn
ra nhiều cuộc chiến đấu ác liệt nữa, kéo dài gần một năm sau.
Hai bên đều bị hao binh tổn tướng. Nhưng quân giặc do đông hơn,
lại có nguồn chi viện thường xuyên, còn quân ta lực lượng ít
hơn, lại bị chặn các nẻo đường tiếp tế. Cuối cùng, do lực lượng
quá chênh lệch, quân ta đã thất bại.

Khi chạy tới vùng cửa sông Hát, thấy
không còn cứu vãn nổi tình thế được nữa, Hai Bà Trưng thà chết
chứ nhất định không chịu rơi vào tay giặc, đã cùng nhảy xuống
sông tự tử. Đó là ngày mồng 6 tháng 2 Âm lịch, (Dương lịch
là tháng 3 năm 43).

Các tướng lĩnh khác như các bà Lê
Chân, Thánh Thiên, Bát Nàn ... ở các mũi chiến đấu khác, khi
sức cùng lực kiệt, cũng đều tự vận theo gương Hai Bà.

Cuộc khởi nghĩa chính đã thất bại,
nhưng tại nhiều nơi khác, quân ta vẫn còn tiếp tục chiến dấu.
Mãi tới tháng 11 năm 43 Mã Viện vẫn còn phải mở đường qua Tạc
Khẩu (Yên Mô, Ninh Bình) để vào quận Cửu Chân (Bắc Trung Phần)
đàn áp tướng Đô Dương.

Hai Bà Trưng là những hậu duệ trực
tiếp của các vua Hùng, còn mẹ của Hai Bà, bà Man Thiện,
cũng là cháu chắt bên ngoại của vua Hùng. Bà góa chồng sớm
nhưng đã nuôi dạy hai con gái thành những trang anh hùng kiệt
xuất, mở đầu cho lịch sử chống ngoại xâm vẻ vang của dân tộc.
Khi hai con gái và con rể chuẩn bị khởi nghĩa, bà đã không quản
đường xa mệt mỏi, đi lại khắp nơi để hẹn ước với nghĩa quân
các địa phương. Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng sở dĩ mau chóng
thắng lợi là vì các lực lượng trong nước đều nhất tề đứng đậy
một lần, làm cho quân giặc trở tay không kịp. Với danh nghĩa là
vợ một vị Lạc tướng lẫy lừng, đã đảm đang quán xuyến mọi công
việc sau khi chồng chết, nên lời nói của bà được mọi người
trong nước tin tưởng và hưởng ứng nhiệt liệt.

Hiện
nay ở làng Nam Nguyễn thuộc Huyện Ba Vì (Hà Tây) còn ngôi mộ của Bà mà
mọi người trong vùng vẫn gọi là mả Dạ. "Dạ" là tiếng Việt cổ, để chỉ
một bà già được kính trọng.

Thiên Nam ngữ lục, áng sử ca dân gian
cuối thế kỷ thứ 17, đã ghi lại lời Bà Trưng Trắc trên đàn thề
trước nghĩa quân ở Mê Linh để chuẩn bị xuất trận như sau: Một
xin rửa sạch nước thù Hai xin nối lại nghiệp xưa họ Hùng Ba kẻo
oan ức lòng chồng Bốn xin vẹn vẹn sở công lênh này. Đó là
tính chất chính nghĩa của cuộc khởi nghĩa, là ý chí nguyện vọng
của cả dân tộc lúc bấy giờ.

Các tướng lĩnh trong cuộc khởi nghĩa
của Hai Bà Trưng có rất nhiều, đặc biệt, phần lớn là các tướng
nữ.

Theo điều tra chưa đầy đủ hiện nay ở
nhiều làng thuộc Bắc Phần và Bắc Trung Phần có thờ thần
Thành Hoàng nguyên là các tướng lĩnh của Hai Bà Trưng ngày trước
như:

-Bà Lê Chân ở Hải Phòng.

-Bà Bát Nàn ở Thái Bình.

-Bà Thánh Thiên, Diệu Tiên, Vĩnh Huy, Liễu Giáp, Ả Tắc, Ả Di ở Hà Bắc.

-Bà Bảo Chân, Nguyệt Thai, Nguyệt Độ ở Hải Hưng.

-Vợ chồng Đào Lý, Nàng Tía, Quốc Nương, Khỏa Ba Sơn, Ông Đống, Ông Nà, ở ngoại thành Hà Nội.

-Chu Thước, Đỗ Năng Tế, Hoàng Đạo, Liên Quang Cai ở Hà Tây.

-Ba anh em họ Trương ở Quảng Ninh.

-Năm mẹ con bà Lê Thị Hoan ở Thanh
Hóa, v.v ...

Nhân
dân Tày, Nùng ở Việt Bắc đến nay vẫn còn nhớ nhiều truyền thuyết về tổ
tiên xưa của họ đã từng tham gia vào cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng.

Từ bao đời nay, Hai Bà Trưng đã trở thành biểu tượng cho lòng yêu nước, ý chí quật cường bất khuất của toàn dân tộc.

Ở Hà Nội, Hà Tây, và nhất là ở Vĩnh Phú, đều có lập đền thờ Hai Bà.

Tên của Hai Bà được đặt cho quận,
đường phố, và trường học khắp cả nước ...

go19932008
Quyền Trượng Hồng Ngọc
Quyền Trượng Hồng Ngọc

Tổng số bài gửi : 1021
Age : 23
Registration date : 23/12/2007

Xem lý lịch thành viên http://hoicovay.com

Về Đầu Trang Go down

Re: truyện VN Ở ĐÂY

Bài gửi by go19932008 on 21/1/2008, 9:51 pm

bình khôi công chúa
Bình
Khôi Thông Tuệ Trinh Thục Công Chúa, Đại Vương. Là tước hiệu mà triều
Lê thượng phong cho bà Trưng Nhị, nguyên là phó tướng, phó vương của bà
Trưng Trắc (Trưng Vương) trong cuộc khởi nghĩa mang tên Hai Bà.

Cũng như chị, bà Trưng Nhị là một nữ tướng thao lược, đã cùng khởi nghĩa và lập nên nhiều chiến công hiển hách.

Ngồi trên bành voi, Hai Bà chỉ huy tướng sĩ, đốc thúc lực lượng tiêu diệt thành Luy Lâu và nhiều huyện, thành khác.

Khi
cuộc khởi nghĩa thắng lợi, bà Trưng Trắc xưng vương, đóng đô ở Mê Linh,
còn bà Trưng Nhị cũng được phong vương, đóng quân ở thành Dền.

Thành Dền, tên chữ là Cự Triền, được xây dựng ở trang Cự Triền, đến nay hãy còn dấu vết, cách thành Mê Linh khoảng 9 dặm.

Thành đắp hình bán nguyệt, có tường
cao hào sâu, bốn bề có tháp canh, lại có cổng thành chắc chắn,
quân lính canh gác ngày đêm cẩn mật. Trong thành có chỗ ăn chỗ
nghỉ cho quân sĩ, có chỗ luyện tập, thi đấu võ nghệ, lại có
giếng nước, kho lương đầy đủ.

Khi
trận chiến đấu ở Lãng Bạc thất thế, Hai Bà rút về thành Dền cố thủ.
Quân địch đánh mãi không được, Mã Viện phải dùng kế bao vây lâu dài.

Y
sai đắp một thành khác, cách thành Dền 3 dặm, gọi tên là thành Vượn
(thuộc xã Tam Đồng, Yên Lãng). Từ thành Vượn và từ phía Mê Linh (nơi
quân giặc đã chiếm) chúng án ngữ các đường tiếp tế và tổ chức nhiều đợt
tấn công vào thành Dền. Bất đắc dĩ Hai Bà phải bỏ thành Dền, lui về đất
Cẩm Khê.

Tại Cẩm Khê, nhiều cuộc chiến đấu nữa diễn ra. Cuối cùng vì lực lượng ít, quân ta đã thất bại. Cả Hai Bà đều nhảy xuống sông Hát tự tận.

Lại có thuyết nói bà Trưng Nhị bị tử
thương trên sông Nguyệt Đức, lúc ấy đang có bão, từng đợt sóng
đang dâng lên cuồn cuộn. Quân ta thừa thế xông vào trận địa
cướp lấy thi thể của vị chủ tướng rồi vượt sóng đưa về an táng
trên núi Hy Sơn thuộc đất Phong Châu ngày nay.

Tại
Phong Châu và thành Dền có đền thờ của bà Trưng Nhị. Còn tên
của bà, từ bao đời nay, vẫn gắn liền với bà Trưng Trắc. Nhân
dân gọi hai vị khởi xướng và lãnh đạo cuộc khởi nghĩa đầu tiên,
đơn giản chỉ là "Hai Bà Trưng", một cách gọi thật dân dã, gần
gũi mà kính trọng.

go19932008
Quyền Trượng Hồng Ngọc
Quyền Trượng Hồng Ngọc

Tổng số bài gửi : 1021
Age : 23
Registration date : 23/12/2007

Xem lý lịch thành viên http://hoicovay.com

Về Đầu Trang Go down

Re: truyện VN Ở ĐÂY

Bài gửi by go19932008 on 21/1/2008, 9:52 pm

Gia Thông Đại Vương Lý Phục Man
Đại
Vương người làng Cố Sở, sau đổi là An Sở, thuộc huyện Đan Phượng, Hà
Tây ngày nay, sống vào khoảng cuối thời nước ta thuộc Lương (540), có
công theo giúp Lý Nam Đế, lập được nhiều chiến công hiển hách.

Đại
Vương khi còn trẻ tuổi còn có sức phi thường, đã từng trị được voi dữ,
lại tinh thông võ nghệ và cưỡi ngựa, bắn cung cũng thật giỏi. Tư cách,
đức độ của Đại Vương lại thực hơn người, nên đi đến đâu mọi người cũng
mến phục.

Khi ấy dân ta sống dưới ách thống trị của ngoại
bang, phải chịu trăm bề điêu đứng. Các anh hùng hào kiệt muốn liên kết
với nhau để chống lại, lúc đầu thường phải dấu họ tên để khỏi bị bọn
giặc giết hại.

Năm 541, Lý Bí đang làm chức giám quân ở Cửu
Đức (vị trí huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh bây giờ) đã liên kết với các hào
kiệt phất cờ khởi nghĩa. Đại Vương theo giúp Lý Bí ngay từ lúc bấy giờ,
và lập được nhiều công lớn.

Sau khi chiếm Cửu Đức, Lý Bí
đem quân ra đánh thành Long Biên. Thứ sử Giao Châu lúc bấy giờ là Tiền
Tư phải bỏ chạy về Quảng Châu.

Mùa xuân năm 544, Lý Bí lên
ngôi xưng là Lý Nam Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân, rồi dựng điện Vạn Thọ
làm nơi triều hội và phong tước hiệu cho các quan.

Sau khi nhận tước hiệu, Đại Vương lại
cầm quân ra trấn thủ biên giới ở miền Đỗ Động. Đây là nơi
xa xôi, hiểm trở, các băng trộm cướp thường nổi lên cướp
bóc, làm cho dân tình điêu đứng. Đại vương thi hành chính sách
vừa nghiêm khắc vừa khoan hòa, nên chẳng bao lâu miền ấy đã
ổn định. Các kẻ hùng trưởng đều phải nín hơi, bọn trộm cướp
phải về thuần phục và dân chúng thì yên vui, chăm lo làm ăn
sinh sống.

Quân
Lâm Ấp (tức Chiêm Thành) vào cướp quân Nhật Nam, tiến vào tận châu Cửu
Đức. Lý Nam Đế triệu hồi Đại Vương về Kinh, giao cho cầm binh chống
giặc.

Đại Vương dẫn quân đi, đánh tan quân Lam Ấp. Khi tin
thắng trận báo về Kinh đô , Lý Nam Đế bảo các quan: "Thật tre già mới
biết đao sắc, đất nước có gian nguy mới biết người tài giỏi. Đỗ Động
tướng quân thật là bậc hào kiệt, dẫu danh tướng đời xưa cũng không hơn
được, nên ta cần phải trọng thưởng để nêu gương".

Khi Đại
Vương về triều, nhà vua cho đổi họ Ngài thành họ Lý, theo họ nhà vua.
Tên của Ngài cũng đổi thành Phục Nam, tức là người đã có công khuất
phục được các "rợ" ở miền biên giới.

Nhân có nàng công chúa
đến tuổi gả chồng, Lý Nam Đế cho làm lễ thành hôn với Lý Phục Nam, và
thăng cho Ngài lên chức Thái úy, đứng đầu các quan võ.

Lý Thái Úy đã chẳng phụ lòng
mong mỏi của nhà vua. Khi xử đoán các việc, Ngài luôn luôn theo
lẽ công bằng, còn bản thân thì thanh liêm, chính trực. Những
kẻ lộng quyền phải vào khuôn phép, người có công được ban thưởng,
cón ai oán trái thì được minh xét tỏ tường. Trong triều ngoại
nội vì thế, ai cũng kính phục, gọi Ngài là Phục Man tướng quân.

Dẫu sao thì chính thể của triều đại
Lý Nam Đế cũng mới là chính thể độc lập đầu tiên, vì vậy nhiều
thứ hãy còn bỡ ngỡ, chưa vào quy cũ. Vì vậy, những vùng ở xa
Kinh đô , nhất là ở nơi biên giới, các hào trưởng, tù trưởng
thường hay xưng hùng xưng bá, không chịu phục tùng chính quyền
trung ương. Bất đắc dĩ, Lý Nam Đế lại phải phái Lý Thái Úy lên
giữ đất Đường Lâm, là vùng nổi tiếng cứng đầu, cứng cổ nhất
lúc bấy giờ. Kể từ khi Thái úy đến tri nhậm, vùng đất ấy lại
được yên ổn.

Cuối
mùa hạ năm 545, nhà Lương sai Trần Bá Tiên đem đại binh đi đánh Giao
Châu. Lý Nam Đế đem ba vạn quân ra chống lại, nhưng vì quân số ít hơn,
lại trang bị kém nên đã bị thua ở Châu Diên, rồi ở cửa sông Tô Lịch.
Nhà vua phải rút về thành Gia Ninh. Quân Lương đuổi theo vây thành.

Sang
đầu năm sau, năm 546, Trần Bá Tiên đánh lấy được thành Gia Ninh. Lý Nam
Đế chạy vào đất của người Lạo ở Tân Xương. Quân Lương đóng ở cửa sông
Gia Ninh.

Đầu tháng 8 năm ấy, sau khi củng cố
lưc lượng, Lý Nam Đế định tổ chức một cuộc phản công lớn với
hai vạn quân và rất nhiều thuyền bè, đang tập trung ở hồ Điểm
Triệt (Lập Thạch, Vĩnh Phú).

Lừa lúc đêm
tối, nước sông Cái dâng lên cao, đổ tràn vào hồ trong mùa mưa bão, Trần
Bá Tiên cho thuyền theo dòng nước vào đánh quân của Lý Nam Đế.

Do
bị bất ngờ, quân Lý Nam Đế bị tan vỡ, phải rút sâu vào động Khuất Lạo.
Tại đây, Lý Nam Đế lại tiếp tục củng cố lực lượng, rồi giao toàn bộ
thủy binh cho Triệu Quang Phục tiến đánh thủy binh của Trần Bá Tiên.

Triệu
Quang Phục là một tướng trẻ tài năng và có nhiều mưu lược, đã chỉ huy
thủy binh là những người Việt thông thạo sông nước, đánh nhau với Trần
Bá Tiên nhiều trận, chưa phân thắng bại. Nhận thấy quân địch đông hơn,
Triệu Quang Phục rút về phòng ngự ở đầm Dạ Trạch, rồi sau đó phản công,
giết tướng giặc Dương Sằn và xây dựng lại nền độc lâïp nước nhà.

Còn
đây lại nói về Lý Nam Đế và Lý Thái Úy. Sau khi giao thủy binh cho
Triệu Quang Phục, Lý Nam Đế ở lại động Khuất Lạo, với quân sĩ phần lớn
là người Di, Lạo. Và Lý Thái Úy, từ khi quân Lương sang xâm lấn, đã
mang quân từ Đường Lâm về Kinh để cùng nhà vua chống giặc. Sau mấy trận
thất bại, Thái úy cũng về với nhà vua ở động Khuất Lạo và nắm giữ binh
quyền phần lớn là người Di, Lạo đó.

Sang năm sau, năm 547,
Lý Nam Đế mất, do tuổi cao sức yếu, lại ở miền lam chướng, và cả nỗi lo
phiền. Thái úy một mặt lo mai táng cho Lý Nam Đế, mặt khác cũng sai
quân sĩ phòng ngự ở những nơi hiểm yếu. Tuy nhiên, sự phản trắc lại xảy
ra ở một hướng khác.

Ấy là những người lính Di, Lạo mà từ
trước đến bấy giờ, hầu như họ chỉ là thần dân của một giang sơn riêng
vậy. Khi Lý Nam Đế có đông đảo quân lính người Việt thì theo họ, còn
bây giờ, quân lính người Việt đã rút đi (theo Triệu Quang Phục) và Lý
Nam Đế cũng đã mất, thì họ không chịu theo nữa.

Lý Thái Úy
tuy hiểu rất rõ tình thế này, nhưng một mặt phải chịu mệnh vua, không
thể từ chối mà không ở lại, mặt khác, nếu có lo đối phó lại họ thì cũng
không đủ lực lượng, vì số người Việt ở lại còn rất ít. Vì thế, Ngài
chẳng có kế sách gì hơn là phải chịu nương theo số phận đưa đẩy, để chờ
cơ hội khác.

Vào một đêm,
Ngài đã đi ngủ, bỗng thấy xung quanh nhà lửa sáng rực trời, quân Di
LaÏo lũ lượt kéo đến vây bọc. Ngài cùng các gia tướng đánh phá vòng vây
chạy ra. Quân Di Lạo đuổi theo, rồi vốn quen thung thổ, đã chặn hết các
lối. Lý Thái Úy cùng gia tướng chiến đấu cho đến lúc sức cùng lực kiệt.
Và khi bị thương, biết chạy cũng vô ích, Ngài bèn trở ngược kiếm, đâm
thẳng vào ngực mình.

Quân Di Lạo dầu sao thì cũng không
phải là giặc nước, như quan quân nhà Lương. Điều đơn giản là
họ chỉ muốn sống cuộc sống theo cách quen thuộc của họ, không
muốn có người ngoại tộc chen vào. Vì vậy, sau khi khi Lý Thái
Úy mất, họ không tìm cách trả thù, tức là họ vẫn để nguyên
thi thể của Ngài ở đây mà không vứt bỏ hoặc hủy hoại.

Chính
vì vậy, khi nhận được tin này, người nhah đã từ Cổ Sở, ngược đường lặn
lội lên, mang linh cữu của Ngài về quê nhà mai táng. Phần mộ của Ngài
về quê nhà mai táng. Phần mộ của Ngài được đăït ở cạnh bến Ngọc Tần, đó
cũng là tên con sông nhỏ đã chảy qua vùng này.

Gần 500 năm
sau, khi Lý Thái Tổ từ Hoa Lư dời đô ra Thăng Long, đã dùng thuyền đi
quan sát các vùng phụ cận. Đến bến Cổ Sở, thấy phong cảnh núi sông đẹp
đẽ, nhà vua lên bờ, rồi đi dạo trong vùng. Đến bữa dùng cơm, trước khi
ăn, ngài rót một chén rượu rồi tưới xuống đất mà khấn rằng: "Trẫm xem
nơi này non nước kỳ tú, phong vật dồi dào. vậy, nếu có người thiêng
liêng ở cõi âm, hãy trở về nhận chén rượu này Trẫm tặng!"

Đêm
ấy, nhà vua sai lập hành tại để nghỉ lại trong vùng. Đang trong giấc
ngủ, Ngài mộng thấy một người cao lớn, mặt mũi phương phi, ăn mặc trang
nghiêm, đến thi lễ trước mặt mà nói rằng:

- Thưa Bệ hạ. Tôi
người làng này, họ Lý, tên Phục Man, làm tướng giúp Lý Nam Đế. Khi
đương thời được vua giao giữ hai đất Đỗ Động và Đường Lâm, được mọi nhà
tin yêu. Khi tôi chết được đức Thượng đế khen thưởng cho giữ chức vụ
như cũ. Từ đó đến nay, tôi thường đem lính âm binh đến phù trợ cho các
triều đại của ta chống giặc mau chóng thành công. Tuy khi tôi chết, dân
làng đã lập miếu thờ, vì vậy tôi được phảng phất trong khoảng trời mây,
lúc có giặc thì hiển ứng chống đánh, nhưng dân làng vẫn sợ bọn giặc vào
cướp phá đền. Nay bệ hạ loan giá tới đây, có lòng tưởng nhớ, vậy tôi
xin đến bái kiến.

Nói đoạn, Lý Phục Man liền ngâm tiếp bốn câu thơ:

Thiên hạ toàn mông muội
Cô vị ẩn thanh danh
Trung thiên yết nhật nguyệt
Quang diệu thị chân hình.


(Dịch
nghĩa:

(Lúc) Thiên hạ toàn mờ tối
Nên phải tạm ẩn tăm, tiếng
(Nay) Giữa trời đã thấy mặt trời, mặt trăng
Ấy là lúc hình hài được sáng tỏ).
Ngâm xong, Lý Phục Man liền biến mất. Lý Thái Tổ tỉnh mộng, hôm sau nói lại câu chuyện và đọc mấy câu thơ cho mấy viên quan đi theo nghe rồi hỏi ý kiến mọi người.Ngự sử đại phu Lương Nhậm Văn nói:

- Muôn tâu Bệ hạ! Hạ thần trộm nghĩ Lý Tướng quân muốn được dựng tượng thờ để dân chúng cũng thấy mặt.

Lý Thái Tổ gật đầu khen phải, rồi xuống chiếu phục lập Phục Man làm phúc thần cai quản một vùng. Lại sai dựng miếu đàng hoàng hơn trước. Trong đền, sai tạc một bức tượng giống như hình dáng nhà vua đã thấy trong mộng.

Đền
xây xong, tượng tạc xong, dân chúng trong vùng và các nơi về trảy hội
đông như mắc cửi. Từ đấy trở đi, hương khói không lúc nào dứt, và được các đời truyền tụng là một ngôi đền rất mực linh thiêng.

Trong
thời Nguyên Phong (1251 - 1257) tức là sau đến gần 250 năm, vào đời
Trần Thái Tông, quân Mông Cổ sang xâm lấn. Khi kỵ binh của chúng qua
địa phận làng Cổ Sở, ngựa đều phải phục xuống, không thể tiến lên được.
Dân làng tin là có thần âm phù, nên cùng nhau cầm vũ khí xông ra đánh,
giết, được rất nhiều giặc.

Khi giặc tan, nhà vua xuống chiếu phong thần là "chứng an quốc công" và ban cho làng Cổ Sở là "Chứng an hộ xá".

Đến
năm Trùng hưng thứ nhất (1285) giặc Nguyên Mông lại sang lần thứ hai,
đi đến đâu chúng cũng đốt phá tan tành. Ấy mà làng này, sau khi giặc
tan vẫn nguyên lành, không một vật gì bị phạm tới. Dường như có bàn tay
của thần Lý Phục man ngăn trở quân giặc vậy. Vua Trần Nhân Tông thấy
thế liền tấn phong Ngài lên thêm một bậc là "Chứng An Vương". Năm thứ
tư, gia phong hai chữ "Minh Ứng". Năm Hưng Long thứ 21, lại gia phong
hai chữ "Tả Quốc".


Được sửa bởi ngày 22/1/2008, 7:18 pm; sửa lần 1.

go19932008
Quyền Trượng Hồng Ngọc
Quyền Trượng Hồng Ngọc

Tổng số bài gửi : 1021
Age : 23
Registration date : 23/12/2007

Xem lý lịch thành viên http://hoicovay.com

Về Đầu Trang Go down

Re: truyện VN Ở ĐÂY

Bài gửi by go19932008 on 21/1/2008, 9:53 pm

Hắc Đế Mai Thúc Loan
Nước
ta, trong thời kỳ thuộc Tùy, Đường (603 - 906) sau cuộc khởi
nghĩa của Lý Tự Điên, Đinh Kiến năm 687, là đến cuộc của
Mai Thúc Loan nổ ra năm 722. Đây là cuộc khởi nghĩa lớn, quân
số lên tới hơn ba chục vạn người. Sau thắng lợi. Mai Thúc Loan
lên ngôi Hoàng đế, ở ngôi mười năm rồi mới mất.

Nhà
vua quê ở châu Hoan thuộc quận Nhất Nam (nay là miền trung du của Nghệ
An), vốn xuất thân từ tầng lớp bình dân, nhưng là người có tài năng và
chí khí lớn. Cha là Mai Sinh, mẹ là Vương Thị, đều là người hiền đức,
suốt đời chăm lo chí thú làm ăn và làm nhiều việc nghĩa.

Tương
truyền lúc sắp sinh ra nhà vua, bà mẹ nằm mộng thấy một thiếu phụ vận
quần áo màu đỏ, đến trao cho một viên ngọc lớn. Bà nhìn xem, thấy đó là
viên ngọc bích có năm sắc màu lung linh, hình dáng giống như quả trứng
gà nhưng to hơn một chút.

Bà cảm động, giơ tay đón lấy, nhưng chẳng may lỡ hụt, làm viên ngọc rơi xuống đá vỡ tan. Thế là bà tỉnh mộng.

Đến khi sinh, nhận thấy đứa trẻ ở
đùi bên trái có vết xanh đen, giống như hình đồng tiền,
bà đem chuyện nằm mộng nói lại với chồng. Ông Mai Sinh lấy làm
lạ, rồi suy gẫm hồi lâu mà giải mộng như sau:

- Ngọc hình quả
trứng gà, lại có năm sắc lung linh, đấy là điềm của loài linh
điểu mang năm đức tính tốt vận vào. Còn ngọc rơi xuống, có tiếng
vang, lại bắn đi khắp nơi, ấy cũng là điềm lành, sau này đứa
trẻ nhất định sẽ làm vẻ vang cho gia đình và đất nước, tiếng
tăm sẽ vang dậy khắp nơi và lưu lại đến muôn đời.

Chẳng
biết ông Mai Sinh có như người ta "với tay một tấc đến trời" hay không,
mà chỉ biết niềm tin của ông là sắt đá. Ông mời mọi người đến ăn mừng,
rồi tuyên bố đặt con là Phượng , tự là Thúc Loan, lấy ngay các từ trong
mộng.

Nhưng thực không may, đến năm Mai Thúc Loan lên mười
thì bà mẹ vào rừng kiếm củi bị hổ vồ, ông bố buồn rầu sinh bệnh, chẳng
bao lâu sau cũng mất.

Một người bạn của cha là Đinh Thế,
gia tư giàu có nhưng lại trọng nghĩa khinh tài, thấy vậy, đem Thúc Loan
về nuôi, coi như con đẻ.Ông quả là có con mắt tinh đời, thấy trước mọi
việc. Đến khi lớn lên, quả nhiên Mai Thúc Loan có tướng quý và có nhiều
tài năng xuất chúng, đúng như lời ông bố đã giải mộng.

Mai
Thúc Loan có đầu hổ, mặt rồng, tay vượn, bắp thịt nổi cuồn cuộn, dáng
đi hùng dũng hiên ngang và tiếng nói thì sang sảng như sấm. các môn võ
nghệ như côn quyền, giáo mác, cung kiếm, chàng cũng thực cao cường. Lại
các cách bày binh, bố trận, chàng cũng đều thông thuộc cả.

Không
biết Mai Thúc Loan học những thứ đó từ bao giờ và học với ai, nhưng chỉ
biết, bạn bè của chàng rất đông, và trong số họ, đều là những trang nam
nhi chí khí, những bậc anh tài trong thiên hạ.

Đó là những người có cùng mục đích cứu nước cứu dân, như sau này sẽ thấy. Và chính Mai Thúc Loan, da tài năng và đảm lược hơn người, lại tính tình hào hiệp đôï lượng, nên đã tập hợp họ lại được.

Ông bố nuôi Đinh Thế biết tất cả
những việc mà Mai Thúc Loan đã làm. Chẳng những không ngăn cấm
mà ông còn khuyến khích, tạo thêm điều kiện cho chàng làm những
công việc đó. Ông hiểu sau này con nuôi ông là người sẽ cần
thiết và có ích cho đời. Dân ta đang rên xiết dưới ách thống
trị của ngoại bang, phải có những người anh hùng đứng lên để
đánh đuổi chúng đi chứ?

Ông
Đinh Thế có cô con gái, tuổi cũng xấp xỉ như Mai Thúc Loan, tên gọi
Ngọc Tô. Đó là cô gái xinh đẹp, nết na, lại đảm đang tháo vát, được ông
rất quý mến. Chẳng hề nề hà con nuôi với con đẻ, ông đem tác hợp cho
đôi trẻ khi chúng trưởng thành. Rồi ông chia cho họ nhà cửa, sản vâït,
ruộng nương cũng thật đầy đủ, chu đáo.

Là cô gái đảm đang, Ngọc Tô lo quán xuyến công việc trong nhà để cho chồng có thời gian tập luyện và đi
gặp gỡ bạn bè. Ấy vâïy mà, sản vật cứ một ngày một tăng, kẻ ăn người
làm trong nhà cũng ngày một đông. Mai Thúc Loan thỏa lòng thù tiếp bạn
bè, còn Ngọc Tô cũng luôn tươi cười, không bao giờ có lời phàn nàn nào
cả.

Tháng lại ngày qua, gia đình họ sống yên vui đầm ấm, bề
ngoài cũng làm ăn sinh sống và sinh con đẻ cái như mọi người, nhưng bên
trong, là cả một sự chuẩn bị ráo riết cho ngày khởi sự: Tích trữ lương
thực thực phẩm để lo tiếp bạn bè và quân lính sau này. Lúc ấy ông bố
nuôi cũng đã mất.

Những người cùng chí hướng, kẻ trước
người sau, lục tục tìm về. Phòng Hậu, Thôi Thăng ở Hoa Dương, rồi đến
Phục Trường Thủ, Đàn Vân Du, Mao Hoành, Tùng Thụ, Tiết Anh, Hoắc Đan,
Khổng Qua, Cam Hề, Sĩ Lâm, Bộ Tân ... đều là bạn bè cũ hoặc bạn bè mới,
do mến mộ tài năng Mai Thúc Loan mà tìm đến. Đó là những danh sĩ và
những tráng sĩ nổi tiếng đương thời, quê quán chính yếu ở vùng Châu
Hoan cả.

Ban ngày những người này ra bãi làm lụng cùng vợ chồng Mai Thúc Loan, nhưng đêm
về thì họ tập luyện võ nghệ và bàn tính công việc. Thanh thế của họ lớn
dần, thanh niên trai tráng trong vùng tìm đến cũng rất đông. Chỉ trong
vòng một tháng quân số đã lên tới mấy nghìn người.

Lúc bấy giờ bên nhà Đường, Võ Tắc
Thiên nhiếp chính, đưa anh em dòng họ Võ vào triều đình, khuynh
lót dòng họ Lý đang thất thế. Sự lục đục lan ra đến tận các
vùng xa xôi. Đất cai trị của nhà Đường khi ấy cũng thực rộng,
ở phía Nam, bao gồm cả nước ta lẫn Lâm Ấp và Chân Lạp. Bọn
quan lại nhà Đường thả sức vơ vét bóc lột, khiến cho dân ở
cả ba miền nước phải điêu đứng trăm bề.

Bạn
bè của Mai Thúc Loan đều cho rằng thời cơ khởi nghĩa đã đến, nhưng vốn
thận trọng nên Mai Thúc Loan hãy còn cân nhắc đắn đo. Mao Hoành, Tùng
Thụ hiến kế:

- Thưa huynh trưởng, chúng ta chẳng nên
lo lực lượng chưa đủ. Dân ta đã có câu: "Một cây làm chẳng
lên non. Ba cây chụm lại nên hòn núi cao". Nay ta nên liên kết
với Lâm Ấp và Chân Lạp thì ắt hẳn sẽ đánh đuổi được quan quân
nhà Đường.

Mọi người khen phải. Tiết Anh, Hoắc
Đan tình nguyện xin đi sứ sang hai nước láng giềng. Nhưng Khổng
Qua, Cam Hề, Sĩ Lâm, Bôï Tân cùng đứng dậy nói:

- Ta chưa nên
cử người đi sứ vội bởi vì danh chưa chính. Trước hết ta dựng ngay
cờ khởi nghĩa rồi đem quân chiếm châu thành. Sau đó, huynh trưởng
sẽ lên ngôi Hoàng đế, thiết lập giang sơn riêng. Lúc ấy, cử
người đi sứ ắt sẽ được hai nước kia hưởng ứng.

Mai Thúc Loan nói:

-
Xin đa tạ tấm thịnh tình của anh em. Lời bàn thật chí lý. Nhưng chúng
đã ta thề sống chết có nhau, hà cớ gì phải lên ngôi để trong anh em có
sự cách bức?

Phòng Hậu, Thôi Thặng, Phục Trường Thủ, Đàn Vân Du thấy vậy, cùng nói:

-
Huynh trưởng lâu nay đối xử với anh em thế nào, chúng tôi đều đã rõ.
Sau này nếu có lên ngôi thì chẳng qua chỉ là sự bắt buộc để cho chính
lệnh được nghiêm mà thôi. Chúng ta cùng nhau làm việc nghĩa đánh đuổi
quan quân nhà Đường, ai đáng việc gì thì làm việc ấy, chứ đâu phải để
ngồi chia nhau bổng lộc?

Mai Thúc Loan đặt cả hai tay lên ngực:

- Anh em đã nói vậy, tôi cũng dám thêm nhiều lời. Chỉ xin anh em chứng dám cho lòng này trước làm sao sau làm vậy mà thôi.

Ngay
ngày hôm sau, Mai Thúc Loan cùng các bạn bè dựng cờ khởi nghĩa. Rồi
chiêu binh mãi mã, đắp lũy xây thành. Chỉ trong vòng một tuần được các
nơi gần xa hưởng ứng, quân số đã lên tới gần mười vạn.

Sau khi sắp đặt người chỉ huy các quân và đạo,
Mai Thúc Loan dẫn đại binh tiến đánh thành Hoan Châu. Quan quân nhà
Đường hoảng sợ, không dám chống cự lại, đã bỏ thành mà chạy.

Mai
Thúc Loan vào thành, chia quân đóng giữ các ngã. Rồi, trước lời thỉnh
cầu của mọi người, Ngài lên ngôi Hoàng đế ở phía nam Hương Lãm. Đó là
vào đầu màu hạ năm Quý Sửu, tức vào niên hiệu Khai nguyên thứ nhất đời
Đường Huyền Tông (712). Nhà vua tự cho mình thuộc về đức thủy, tượng
trưng bằng màu đen, và xưng là Hắc Đế.

Mai Hắc Đế sắp đặt
triều thần vào các chức vụ nhhư sau: Phòng Hậu làm Quân sư, Thôi Thặng
làm Thái úy, Phục Trường Thủ làm Tham mưu, Đàn Vân Du làm Tán nghị, Mao
Hoành làm Thái trung đại phu, Tùng Thụ làm Thị trung nội sử, Sĩ Lâm làm
Hộ quân, Bộ Tần làm Lang tướng, Tiết Anh làm Lâm Ấp thông vấn sứ, Hoắc
Đan làm Chân Lạp cáo dụ sứ.

Năm sau, năm Giáp Dần, Tiết
Anh, Hoắc Đan phụng chỉ đi sứ sang Lâm Ấp và Chân Lạp. Dân hai nước này
bấy lâu cũng bị khổ nhục vì quan quân nhà Đường, đến nay thấy nước ta
khởi nghĩa thắng lợi, nên nhiệt liệt hưởng ứng. Vua Lâm Ấp Phạm Hề Dĩnh
sai tướng Chư Hương An đem mười vạn quân, vua Chân Lạp Hồ A Khiêm sai
tướng Tham Ninh cũng đem mười vạn quân, đến Hương Lãm hội kiến.

Uy
danh của triều đình Mai Hắc Đế vì thế mà ngày một càng lừng lẫy. Quan
quân nhà Đường hoảng sợ. Viên Thứ sử Hoan Châu cũ là Tào Chân Tĩnh phải
lui quân về giữ Quế Sơn.

Mai Hắc Đế tiếp tục cho quân tiến
đánh Quế Sơn, rồi Long Biên. Quan quân nhà Đường phải rút chạy về nước.
Thành Long Biên về tay quân ta.

Từ đó trở đi, đất nước thái
bình, dân chúng yên tâm làm ăn sinh sống, các bộ tộc thiểu số xung
quanh cũng đều về thuần phục cả.

Năm Bính Thìn (715), vua
Đường đã dẹp xong nội loạn, bèn sai Dương Tử Đức là Tả giám môn vệ và
Nguyên Sở Khách làm Đô hộ phủ mang hơn ba mươi vạn quân, chia làm hai
hướng đường thủy bộ, cùng tiến vào Long Biên. Một trận chiến đấu ác
liệt diễn ra. Cuối cùng, do chênh lệch lực lượng, quân ta thất bại,
phải rút chạy về Hương Lãm (Nghệ An).

Quân nhà Đường vào
thành Long Biên củng cố lực lượng, rồi mấy năm sau, mang đại binh tiến
đánh Hương Lãm, vây bức phủ thành. Mai Hắc Đế cùng tướng sĩ ra sức ngày
đêm
cố thủ. Nhưng lương thực ngày một cạn dần, quân số cũng hao tổn thêm
sau các trận chiến đấu. Cuối cùng, thành bị vỡ, Mai Hắc Đế cùng tướng
sĩ tử chiến với quân giặc và hy sinh oanh liệt giữa trâïn tiền.

Tính ra, từ năm nhà vua lên ngôi, Quý
Sửu (712), đến khi thất thủ, Nhâm Tuất (722), là vừa tròn 10
năm, và đã để lại cho hậu thế một sự nghiệp thật là hiển
hách.

Để
tưởng nhớ công đức của Ngài, người đời sau đã xây dựng đền miếu thờ ở
ngay chỗ mà trước kia là cung điện của Ngài. Hương khói quanh năm không
lúc nào dứt. Mọi người đến để tưởng nhớ và cầu xin vong linh Ngài phù
hộ độ trì cho.

Đền thờ Ngài ở xã Nam Diên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Đền đã được xếp hạng công nhận là di tích lịch sử văn hóa.

Các
triều đại trước kia mỗi khi chính vị đều có sắc thượng phong: "Anh Vũ
thần dũng Hoàng đế", "Vĩ tích uy liệt Hoàng đế", " Minh mẫn thần vũ
minh đức Hoàng đế" - Đó là những mỹ hiệu mà các thời Trần trùng hưng đã
tặng cho Ngài. Các triều đại về sau cũng đều noi theo gương đó.

Ngày nay, nhiều trường học, đường phố đã mang tên Ngài.


Được sửa bởi ngày 22/1/2008, 7:20 pm; sửa lần 1.

go19932008
Quyền Trượng Hồng Ngọc
Quyền Trượng Hồng Ngọc

Tổng số bài gửi : 1021
Age : 23
Registration date : 23/12/2007

Xem lý lịch thành viên http://hoicovay.com

Về Đầu Trang Go down

Re: truyện VN Ở ĐÂY

Bài gửi by go19932008 on 21/1/2008, 9:53 pm

Khâu Ni Công Chúa
Nàng
A là người họ Quách, quê ở vùng ngã ba Bạch Hạc bây giờ. Năm
16 tuổi, bố mẹ nàng đều qua đời do phải vất vả cực nhọc vì
sưu cao thuế nặng của người Hán. Làng xóm, đồng ruộng thuở ấy
đều tan tác, tiêu điều ...

Nàng A bỏ nhà đi tu, trong một ngôi chùa ở trong vùng.

Bên
ngoài là người tu hành nhưng bên trong nàng A vẫn rèn đúc tâm trí để
một ngày kia có thể đem ra giúp nước. Tập bắn cung múa kiếm, ném lao.
Nàng A còn tập cả cách hái thuốc chế thuốc chữa bệnh.


con cọp đến trở dạ đẻ ở mé sau chùa. Cọp oằn mình vật vã rất đau đớn
nhưng cũng rất là dữ tợn. Mọi người đều sợ hãi không ai tới gần. Nàng A
đi tìm lá thuốc rồi giã ra, đem dịt cho cọp, thản nhiên như thường. Cọp
đẻ xong như thể biết ơn, tha con đi biệt, từ đấy không bao giờ trở lại
quấy nhiễu nữa.

Càng ngày dân chúng càng cảm phục nàng A.
Người theo về mỗi ngày một thêm đông, cùng nàng tập luyện. Mọi người
gọi nàng là sư cô Khâu Ni.

Bấy giờ Khâu Ni mới rõ chí nguyện của mình. Mọi người nô nức tán đồng, cùng nhau rèn đúc vũ khí, chuẩn bị lương thực ...

Khâu
Ni hướng dẫn cho mọi người tập luyện không những các môn võ nghệ mà cả
các trậïn pháp, từ đánh bộ đến đánh thủy đều rất thông thạo.

Hai Bà Trưng khởi nghĩa ở Mê Linh, Khâu
Ni đem quân bản bộ về tụ nghĩa. Bà được giao chỉ huy đội quân
thủy.

Khi
ra trận, trên chiến thuyền của Khâu Ni có mộït chiếc trống lệnh rất
lớn. Mỗi khi tiếng trống đổ hồi, thuyền quân ta lao vun vút, quan sĩ
gươm giáo tuốt trần nhất tề xông vào thuyền giặc, làm cho chúng kinh
hoàng bạc vía phải chạy tan tác ...

Thành Luy Lâu và các huyện thành khác
đều bị hạ ... Rồi Hai Bà Trưng xưng vương. Bà Khâu Ni được phong
là Khâu Ni công chúa. Bà lại dẫn quân bản bộ về quê làm ăn
sinh sống.

Ấp
Nhật Chiêu, nay là xã Liên Châu, huyện Lạc Yên, tỉnh Vĩnh Phú, là nơi
bà Khâu Ni đóng bản doanh. Tại đây bà cho lập đồn trại và sửa sang lại
ngôi chùa trước kia bà đã từng tu luyện, rồi cho treo chiếc trống trận ở đó. Vì thế chùa này đến nay vẫn gọi là chùa trống.

Bà Khâu Ni mất sớm, khi đang tu tại
chùa. Nhân dân tôn bà Thần Thành Hoàng, lập đền thờ ở làng
Nhật Chiêu.

Khi cúng tế mọi người ở đây kiêng mặc áo vàng, vì đó là y phục trước kia bà đã mặc ra trận.

Trong khi tiến hành hội lễ có tục
lệ trâu thui cả con, để tưởng nhớ hội xuất quân của bà Khâu
Ni ngày trước. Khi thui trâu chín xong thì dân làng và khách thập
phương dùng dao xẻo mỗi người một miếng, rồi ăn tại chỗ.

Lại
có cả trò chơi cướp cầu, cướp cờ và bơi trải rất là náo nhiệt. Tại ngã
ba Bạch Hạc, các đội thuyền dự thi xếp hàng, khi tiến trống lệnh (lấy
từ chùa Trống xuống) giục giã đổ hồi thì các tay chèo thi nhau guồng
lấy guồng để, và các con thuyền vun vút lao đi, đêå tưởng nhớ lại ngày xưa, dưới sự chỉ huy của bà Khâu Ni, các thuyền của ta khi xuất trận cũng lao đi vun vút như vậy.

Bà Khâu Ni vẫn thường hiển linh. Giúp
Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân, giúp Lê Đại Hành đánh
quân Tống. Giúp Trần Thái Tông đánh quân Nguyên. Các sự tích
đều có ghi lại và các triều đại trước kia đều có sắc thượng
phong.


Được sửa bởi ngày 22/1/2008, 7:22 pm; sửa lần 1.

go19932008
Quyền Trượng Hồng Ngọc
Quyền Trượng Hồng Ngọc

Tổng số bài gửi : 1021
Age : 23
Registration date : 23/12/2007

Xem lý lịch thành viên http://hoicovay.com

Về Đầu Trang Go down

Re: truyện VN Ở ĐÂY

Bài gửi by go19932008 on 21/1/2008, 9:54 pm

Lý Ông Trọng
Lý Ông Trọng là người Việt đầu tiên hiển đạt tại nước ngoài (Trung Hoa), được vua nước ấy nể trọng.

Ông người xã Thụy Hương, huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội ngày nay. Lúc nhỏ có tên là Lý Thân.

Tương
truyền lúc còn sơ sinh ông đã rất to lớn, hơn hẳn các trẻ em bình
thường. Rồi đến tuổi trưởng thành, cao tới 2 trượng 3 thước, lại có sức
khỏe bình thường. Ông hay giúp đỡ mọi người, nên được nhiều kính nể.
Đặc biệt khi ông giết chết con giải hay ăn thịt người ở khúc sông Cái
chảy qua làng, thì lại càng được mọi người hết lòng kính nể.

Sự hào hiệp là anh em sinh đôi của
tính tình khảng khái. Cho nên, khi gặp cảnh ngang trái ông thường
ra tay lập tức. Những người bề trên và các vị gia trưởng, bảo
ông kiêu hãn, nghĩa là vừa kiêu ngạo vừa hung hãn. Họ chỉ thấy
ở ông một kẻ bề dưới bất trị, mà không xét đến động cơ nào
đã khiến ông có những hành động như thế.

Khi
ấy là vào cuối thời vua Hùng Vương thứ 18, sắp sửa bước sang thời Thục
Phán An Dương Vương. Ở bên Tàu là cuối thời Đông Chu liệt quốc, Tần
Thủy Hoàng vừa thôn tính xong 6 nước, rồi xưng là Hoàng đế (221 trước
Công nguyên). Lý Thân lúc ấy còn trẻ, vào làm nha môn cho một vị Lạc
tướng, do một lần ra tay cứu giúp người bị nạn, đã chẳng may đánh chết
hung thủ là người có bà con thân thích với quan trên. Vị Lạc tướng bắt
Lý Thân khép vào tội chết (sát nhân giả tử), nhưng vua Hùng biết
chuyện, tiếc một người trẻ tuổi có nghĩa khí, nên tha cho, chỉ còn bắt
đánh đòn.

Sau trận đòn nhục nhã, lý Thân càng thấm thía
thêm thân phâïn của kẻ tôi đòi: "Người ta ở đời có tráng chí, hãy nên
như chim loan, chim phượng bay cao chín tầng trời, bay xa ngàn vạn dặm,
chứ có lẽ nào chịu quanh quẩn mãi ở đây, để cho người ta hành hạ?"

Từ
đấy, ông bỏ nha môn, đi tìm các thầy giỏi để học. Vừa học chữ, vừa học
võ nghệ. Học thầy trong nước, rồi học cả thầy ở ngoài nước (Trung Hoa).
Ông chẳng quản ngại đường sá xa xôi, hễ biết ở đâu có thầy giỏi là lập
tức tìm đến theo học.

Rồi đến ông thành tài, chẳng những có võ nghệ cao cường mà còn làu thông cả kinh sử. Lúc ấy ông đang ở bên Tàu.

Thời ấy, ở Trung Hoa tuy học hành rất
phát triển, nhưng chứa đặt ra chế độ thi cử để chọn nhân tài.
Nhân tài được tuyển chọn theo cách: Các quan lại địa phương tiến
cử lên nhà vua những người tài năng danh tiếng trong địa hạt
của mình, để nhà vua chọn lựa tuyển dụng.

Lý Thân được tiến cử đến Tần Thủy Hoàng, lúc ấy là vị hoàng đế lẫy lừng, người đầu tiên thống nhất Trung Hoa.

Biết tài của ông, Tần Thủy Hoàng
trọng dụng rồi về sau cho thăng đến chức Tư lệ hiệu úy, một
quan chức lớn trong quân ngũ.

Lúc
bấy giờ, tuy nhà Tần thôn tính xong các nước, nhưng ở biên giới phía
Bắc, vẫn bị người Hung Nô thường xuyên vào cướp. Hung Nô tuy quân ít
nhưng kỵ binh của họ rất thiện chiến, khiến cho quân Tần phải nhiều
phen khốn đốn, chống đỡ liên miên.

Tần Thủy Hoàng bèn phái
Lý Thân đến trấn giữ đất Lâm Thao (thuộc tỉnh Cam Túc ngày nay) để đối
phó với Hung Nô. Lý Thân một mặt cho canh phòng nghiêm ngặt, mặt khác
lại tổ chức nhiều đợt phản công, đánh bao vây tiêu diệt lớn, khiến cho
người Hung Nô sau mấy lần thất bại, đành phải từ bỏ ý đồ xâm lấn. Về sau, hễ họ trông thấy Lý Thân ở đâu, là lập tức quay ngựa chạy, không còn dám chống cự nữa.

Cả một vùng biên giới được bình yên,
khiến cho vua Tần vui mừng như cất xong gánh nặng. Tần Thủy Hoàng
rất quý trọng ông, phong cho là Phụ Tín hầu rồi gả công chúa
cho ông. Đối với môt người ngoại tộc, vừa được phong chức lớn,
lại vừa được nhận là giai tế như vậy, quả là rất hiếm hoi.

Tuy nhiên, mặc dù được trọng thị và
tin dùng, Lý Thân vẫn cảm thấy lạc lõng, bơ vơ ở nơi đất khách
quê người. Ông gửi lòng mình theo những áng mây trôi mãi về
phương Nam, ở đó là quê hương, có cha mẹ, anh em và đồng bào
của ông đang sinh sống. Mặc dù ngày trẻ, do phẫn chí mà ra đi,
nhưng đến nay, khi tuổi tác càng cao, ông lại càng thấm thía nỗi
đau của người xa xứ.

Nhưng
đang mắc việc quân trọng đại, làm sao ông có thể trở về quê hương được?
Ông rất biết Tần Thủy Hoàng, dù trọng thị và tín dùng như thế nào thì
vẫn chém đầu ngay, nếu ông tự tiện rời bỏ nhiệm sở. Thế là ông đành phải chờ đến lúc mình tuổi cao sức yếu vậy.

Ông
dâng sớ cáo lão lên Tần Thủy Hoàng khi thấy mình không còn đảm đương
nổi việc quân, và cũng xin nhà vua cho trở lại quê hương để được nhìn
mặt mọi người thân làn cuối. Tần Thủy Hoàng cho lời tâu ấy là thực, bèn
chuẩn y. Thế là không quản hàng vạn dặm đường sá xa xôi, ông lui gót về
quê, nơi trước kia ông đã sinh ra. Được vài năm thì ông mất, hoàn toàn
mãn nguyện.

Hàng ngàn năm sau, lúc ấy nước ta
đang ở gần cuối kỳ thuộc Đường (603 - 906) Triệu Xương (801)
rồi Cao Biền (864) lần lượt sang nước ta cai trị. Hai tên cáo già
này muốn thu phục lòng người nước Na, bằng việc xây miéu thờ
Lý Thân ở làng Trèm (Từ Liêm, Hà Nội) rồi sau đó cho tạc tượng
và tu bổ đền miếu quy mộtto lớn. Xương và Biền lại phao tin rằng,
đã từng nằm mộng thấy cùng đàm đạo với Lý Thân, hoặc được
Lý Thân hiển linh giúp đỡ đánh thắng quan Nam Chiếu.

Mặc
dù có những việc làm và lời lẽ mỵ của quân xâm lược đối với Lý Thân,
nhưng tình cảm của mọi người đối với ông cũng chẳng vì thế mà suy
suyển. Ông xứng đáng vẫn được tôn trọng bởi tài năng, lòng khảng khái
và chí tiến thủ của mình. Những gì ông đạt được thực không dễ dàng vào
thời buổi ấy. Vậy mà, đến lúc cuối đời ông lại từ bỏ tất cả để được trở
về quê hương, mà đường
đất đi lại đâu có gần gũi gì. Ông căm giận những người đã xử nhục mình
mà bỏ nước ra đi, nhưng chưa bao giờ ông phản lại mọi người và đất nước cả.

Việc
từ trước đến nay mọi người đến đền Trèm dự hội và làm lễ tưởng niệm
ông, vì thế, là hoàn toàn chính đáng, chứ không phải bị kích động bởi
việc làm và lời lẽ của Triệu Xương hay của Cao Biền.

Các
triều đại phong kiến trước đây đều có sắc phong tặng ông. Trời Trần
trùng hưng đặt các mỹ hiệu " Anh Liệt", " Dũng Mảnh". Phụ tín để gọi
ông ...

Lại nói đến thời nhà Tân (Trung Hoa).
Sau khi thấy Lý Thân già yếu, Tần Thủy Hoàng chuẩn y cho ông
về cáo lão. Lại ban cho ông xe ngựa và tặng vật để vượt hàng
vạn dặm đường dài, trở về cố quốc.

Để vẫn tiếp tục giữ cho quân Hung
Nô khỏi vào xâm lấn, Tần Thủy Hoàng sai lấy đồng đúc tượng
ông thật lớn, đặt trước cửa Tư Mã ở Hàng Dương, Kinh đô của
nhà Tần. Lúc bấy giờ, bụng tượng khoét rỗng, chứa được hàng
trục người. Vua Tần sai mấy người lính thay nhau vào đấy, thỉnh
thoảng lại làm cho tượng cử động chân tay, đầu óc, hoặc đi lại
được. Quân Hung Nô ở xa trong thấy, tưởng là Lý Hiệu Úy
còn sống, nên không dám đến xâm phạm.

Thay
vì gọi tên bức tượng là Lý Thân, Tần Thủy Hoàng cho gọi đó là Lý Ông
Trọng. Xem thế đủ biết, Tần Thủy Hoàng đã nể trọng ông đến mức nào.


Được sửa bởi ngày 22/1/2008, 7:23 pm; sửa lần 1.

go19932008
Quyền Trượng Hồng Ngọc
Quyền Trượng Hồng Ngọc

Tổng số bài gửi : 1021
Age : 23
Registration date : 23/12/2007

Xem lý lịch thành viên http://hoicovay.com

Về Đầu Trang Go down

Re: truyện VN Ở ĐÂY

Bài gửi by go19932008 on 21/1/2008, 9:54 pm

Mẫu Thoải
Ở điện
thờ Mẫu, trường hợp đặt ba pho tượng nữ, đều giống nhau ở gương mặt, tư
thế ngồi, và chỉ khác ở trang phục, thì ở bên phải là Mẫu Thượng ngàn,
ở giữa là Mẫu Liễu, còn bên trái là Mẫu Thoải.

Sau đây là truyền thuyết về Mẫu Thoải.

Mẫu Thoải là Mẫu ở miền sông biển. Thoải tức là Thủy, do đọc trệch. Mẫu thường mang trang phục màu trắng.


thuyết nói Mẫu là vị thần lưỡng tính. Lưỡng tính với cái nghĩa: Mẫu là
phụ nữ, nhưng được Ngọc Hoàng Thượng đế ban tặng cho sức mạnh và tài
năng, nhất là tài sông nước, như ở nam giới.

Mẫu là vợ của vua Thủy Tề, là Hoàng hậu ở dưới Thủy cung.

Vua
Thủy Tề trông coi các việc ở biển, còn Mẫu trông coi các việc ở sông, ở
suối. Sông, suối có ở các nơi nên mẫu cũng có mặt ở các nơi, tại các
bến sông lớn ...

Ở làng Viêm Xá, huyện Yên Phong, tỉnh
Hà Bắc, đã thờ Mẫu là Thần Thành hoàng, vì làng này xưa kia
chuyên nghề sông nước, nổi tiếng khắp vùng. Sắc thượng phong
của Mẫu có đề "Nhữ Nương Nam nữ Nam Hải Đại Vương", chính là
vì lẽ đó.

Cũng có thuyết nói Mẫu, không phải
một, mà là ba. Ba mẫu này là con gái của Lạc Long Quân và Âu
Cơ, hai vị thủy tổ khai sáng của nước Văn Lang.

Vua hùng thứ nhất, là con trai trưởng
của Lạc Long Quân, Âu Cơ, bắt đầu lên ngôi trị vì thiên hạ.
Còn trước đó Lạc Long Quân, Âu Cơ đã chia hai ngã, " 50 người
con theo cha lên núi, 50 người con theo mẹ xuống biển", như sử
sách ghi chép. Và Hùng Vương thứ nhất là trong số những người
con theo cha và lên làm vua, ở miền rừng núi và trung du.

Ba
người con gái, trong số " 50 người con theo Âu Cơ xuống biển" ấy, được
chọn để cai quản công việc về sông nước: Chế tạo thuyền bè, đan các thứ
lưới bắt cá, trông coi các luồng lạch và chế ngự các vị thần mưa, thần
gió mỗi khi các vị này lạm công, xâm hại đến hạ giới. Đó là công việc
hàng ngày của ba Mẫu Thoải này.

Ba Mẫu còn có phép thần
thông biến hóa, xua đuổi và tiễu trừ yêu ma, thủy quái mỗi khi chúng
đến sách nhiễu hoặc tàn sát ngư dân.

Ba Mẫu đặt đại bản
doanh ở sông Nguyệt Đức, chia nhau mỗi người một phần công việc. Dưới
quyền các mẫu còn có các thủy thần và các tướng lĩnh, quân sĩ, saÜn
sàng chờ lệnh.

Mẫu thứ nhất có tên hiệu là "Thủy Tinh Đông Đình Ngọc Nữ Công Chúa".

Mẫu thứ hai có tên hiệu la "Hoàng Ba Đoan khiết Phu nhân".

Còn Mẫu thứ ba có tên hiệu là "Tam giang Công chúa".
Trong
sử sách của các thời trước, chỉ ghi chép kỹ các sự kiện chống giặc,và
chính yếu là tuyên dương công trạng của các vị vua chúa, tướng sĩ. Cả
các việc trong cung vua phủ chúa cũng được ghi chép kỹ càng, vì quan
niệm đấy là Ngọc phả. Còn về chuyện làm ăn sinh sống của dân chúng,
thường chỉ được ghi rất sơ sài. Cả những sự khốn khó, những nỗi tai
ương mà dân chúng phải gánh chịu, cũng chỉ ghi rất qua loa, đại khái.

Tuy
vậy,những sự khốn khó, những nỗi tai ương ấy, như những trận bão lụt
khủng khiếp thì chẳng những dân chúng mà cả vua chúa cũng phải hứng
chịu, cho nên sử sách cũng đã ghi chép về các sự kiện loại này. Chính
vì thế, đến ngày nay chúng ta còn được biết những sự kiện có liên quan
đến mẫu Thoải khi trước.


Khi Lý Thái Tổ rời đô từ Hoa Lư về Thăng Long thì miền đồng bằng Bắc bộ
thường xuyên có nạn lũ lụt. Vị vua khai sáng của nhà Lý đã bắt tay ngay
vào công việc trị thủy. Công việc tiến hành phải đến đời vua sau, đời
Lý Thái Tông, mới căn bản xong: Các khúc đê được nối vào nhau và có quy môgần như ngày nay. Trong những năm tháng đang tiến hành công việc đắp đê
ấy, nạn lụt vẫn thường xảy ra. Chính vì vậy, mẫu Thoải đã phái các thủy
thần, tướng lĩnh của mình đến các làng ven kinh thành Thăng Long để âm
phù, giúp dân đắp đê chống lụt. Đó là các làng Nhật Chiêu, Quảng Bá, Tây Hồ, Yên Phụ ... mà đến nay, thần thích vẫn còn ghi lại.

Đến
thời Lê, ở niên đại Vĩnh Thọ, nước sông Hồng dâng lên rất cao, tràn cả
vào Yên Phụ. Nhà vua phải thân hành làm lễ Nam giao ( Lễ tế cáo trời
đất), và các mẫu Thoải cũng lập tức ứng hiệu. Các mẫu đã âm phù giúp
dân chống lụt và xua đuổi bè lũ thủy quái.

Đời Lê Thánh
Tông, nhà vua thống xuất quân sĩ đi đánh Chiêm thành, khi thuyền đi qua
vùng Phú Xuyên, Kim Bảng thì một trận cuồng phong hung dữ nổi lên. Vua
lập tức sai dọn đàn
tràng để cầu xin các vị thần thánh. Mẫu Thoải hay tin, phái Nguyệt Nga
công chúa đến giúp, thế là bão tan. Khi thắng trận trở về, nhà vua nhớ
công ơn, sai đại thần đến tế lễ và mang sắc phong của nhà vua đến phong
tặng Nguyệt Nga công chúa.

Đấy
là một vài sự kiện sử sách còn ghi lại và mọi người ở một
vài địa phương đã thờ Mẫu Thoải làm Thần Thành hoàng, như ở
phần trên đã nói. Còn ở các nơi khác, thì thờ Mẫu ở các điện
vì Mẫu đã có mặt để âm phù ở khắp mọi nơi.

Mẫu
Thoải giúp đỡ mọi người mỗi khi đi qua các vùng sông nước. Do vậy, mỗi
khi bước xuống đò, qua một khúc sông rộng, mọi người thường lẩm nhẩm
cầu khấn, xin Mẫu phù hộ độ trì.

Mỗi khi có hạn, Mẫu phái tướng sĩ đi lo việc làm mưa.

Còn khi bão lụt, Mẫu lại hóa phép để gió yên, mưa tạnh.

Các loài thủy quái, thủy tặc, do có các thần tướng của Mẫu canh chừng, nên cũng không thể tùy tiện tác oai, tác quái.

Nhân dân đã tìm thấy ở Mẫu hình ảnh của các bà mẹ hiền lành, đảm đang, suốt đời lo lắng cho con cho cháu.


Được sửa bởi ngày 22/1/2008, 7:24 pm; sửa lần 1.

go19932008
Quyền Trượng Hồng Ngọc
Quyền Trượng Hồng Ngọc

Tổng số bài gửi : 1021
Age : 23
Registration date : 23/12/2007

Xem lý lịch thành viên http://hoicovay.com

Về Đầu Trang Go down

Re: truyện VN Ở ĐÂY

Bài gửi by go19932008 on 21/1/2008, 9:55 pm

Mẫu Thượng Ngàn
Trong
việc thờ cúng tại các làng quê ở miền Bắc và miền Trung nước
ta, có một hiện tượng phổ biến là bên cạnh đình, chùa, bao giờ
cũng có một nơi thờ Thánh Mẫu, gọi là Điện Mẫu.

Điện Mẫu thường nằm ở mé cạnh chùa, nhà gạch xây thẳng ba gian, nhỏ hơn chùa. Đôi khi cũng xây chùa theo kiểu chữ đinh.

Tại gian chính giữa, là nơi đặt tượng Mẫu.

Trường hợp đặt một tượng Mẫu thì đó là Thánh Mẫu, được hiểu là Mẫu của tất cả.

Trường hợp đặt ba tượng Mẫu thì đó là Mẫu Thượng Ngàn(ở bên phải), Mẫu Liễu (ở chính giữa) và mẫu Thoải (ở bên trái).

Ba
pho tượng này đều tạc hình một phụ nữ, đẹp, phúc hậu, ngồi ở tư thế
thiền, chân xếp bằng và hai tay chắp. Sự khác nhau chỉ là ở những bộ
trang phục.

Ở đây chỉ xin nói đến truyền thuyết của một
mẫu. Đó là Mẫu Thượng Ngàn. Mẫu Thượng Ngàn được mang trang phục màu
xanh. Cũng có người gọi Mẫu là Bà Chúa Thượng Ngàn.



Mẫu là con gái của Sơn Tinh (tức Tản Viên Sơn Thánh) và công
chúa Mỵ Nương (trong truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh cùng cầu
hôn Mỵ Nương, con gái vua Hùng).

Khi còn trẻ, Mẫu là một cô gái đức
hạnh, lại tài sắc vẹn toàn, được cha mẹ đặt tên là La
Bình.

La
Bình thường được cha cho đi cùng, đến khắp mọi nơi, từ miền núi non
hang động đến miền trung du đồi bãi trập trùng. Trong địa hạt mà Tản
Viên Sơn Thánh cai quản, Ngài đã dạy dân không thiếu điều gì, từ săn
bắn thú dữ đến chăn nuôi gia súc, từ trồng cây ăn quả, trồng lúa nương
đến việc đắp ruộng bậc thang, trồng lúa nước ...Rồi dựng nhà dựng cửa,
hái cây thuốc chữa bệnh ...

Ngài cũng thường dùng các vị Sơn thần, Tù trưởng luận đàm thế sự và bàn soạn công việc ...

Do luôn luôn được theo cha như
thế nên La Bình cũng học hỏi được rất nhiều điều. Vốn thông
minh sáng dạ, lại chăm chỉ thực hành nên việc gì La Bình cũng
biết, cũng giỏi. Những khi Sơn Thánh bận việc hay không thể đi
khắp những nơi mà dân chúng cần đến thì La Bình thường được cha
ủy nhiệm đi thay. Những lần như thế, La Bình luôn tỏ ra là một
người đầy bản lĩnh, biết tự chủ trong giao tiếp, lại cũng biết
thành thạo trong mọi công việc.

Các
Sơn thần, Tù trưởng đặc biệt quý trọng nàng, coi nàng là người đại diện
xứng đáng của Sơn Thánh chủ tướng. Còn bản thân nàng, chẳng những hòa
hợp, ân cần với mọ người, mà còn rất thân thuộc, quyến luyến với phong
cảnh, từ cây cỏ hoa lá đến hươu nai chim chóc ...

Khi Tản
Viên và Mỵ Nương, theo lệnh của Ngọc Hoàng Thượng đế, về trời, trở
thành hai vị thánh bất tử, thì Ngài cũng phong La Bình là Công chúa
Thượng Ngàn, thay cha đảm nhận công việc dưới trần, nghĩa là trông coi
tất cả 81 cửa rừng và các miền núi non hang động, các miền trung du đồi
bãi trập trùng của nước Nam ta ...

Trở thành chúa tể của
miền núi non và trung du, Thượng Ngàn công chúa vẫn luôn luôn chăm chỉ,
hàng ngày hết sức làm tròn các trọng trách của mình. Ngài bảo ban các
loài cầm thú phải biết sống hòa hợp với nhau. Dạy chúng đừng ăn những
loài quả độc, nấm độc, biết tránh khỏi những cây cối đổ, những cơn lũ
quét ...

Ngài dạy bảo con người cũng thật chu đáo, tỉ mỉ.
Những gì cha Ngài đã dạy, Ngài đều đem ra áp dụng. Khi tiếp xúc với các
Tù trưởng, Ngài cũng học thêm ở họ được nhiều điều. Thế là Ngài lại đem
những điều hiểu biết mới đi truyền bá ra mãi.

Ngài cải tiến và hoàn thiện thêm
những gì mà trước kia, ở cha Ngài chỉ mới bắt đầu. Làm nhà không
những đã chắc chắn, lại còn phải biết trạm trổ cho thật đẹp
đẽ. Ở mũi các thuyền độc mộc cũng thế, có khắc cả hình hai
đầu rồng chạm hẳn vào nhau. Cách nấu nướng thức ăn,chẳng những
chỉ có kho, luộc mà còn chế thêm ra được nhiều món mới.

Rồi
công việc đồng áng, Ngài dạy mọi người cách lấy ống bương để dẫn nước
từ khe núi xuống. Lại đi phân phát hạt giống, cho nên nơi nào cũng có
cơm dẻo nếp thơm.

Trong các con vật nuôi trong nhà, Ngài
đem về thêm nhiều giống gia súc mới. Lại trồng thêm nhiều giống cây ăn
quả. Rồi trồng cả những hoa thơm cỏ lạ lấy từ trên rừng núi về ...

Công lao của Ngài đối với dân chúng
thực không kể sao cho hết. Ngọc Hoàng Thượng đế còn ban tặng
cho Ngài thêm nhiều phép thuật thần thông, đi mây về gió, và
trở thành vị Thánh bất tử để luôn luôn gần gũi, gắn bó với
cõi trần, vĩnh viễn ở miền trung du và núi non hùng vĩ.

Khi dân chúng sinh sôi nảy nở ra thêm,
từ miền núi non và trung du tràn xuống các miền đồng bằng và
ven biển, đã mang theo những cách thức làm ăn và phong tục tập
quán từ hồi còn ở trong rừng, dưới sự bảo ban dìu dắt của Công
chúa Thượng Ngàn.

Cùng với nhiều vị thần thánh khác, Công chúa Thượng Ngàn vẫn ngày đêm
lặng lẽ âm phù cho sự bình yên của mọi người dân nước Việt. Và thật là
tự nhiên, khi mọi người đều gọi Ngài là Mẫu, một cách vừa trìu mến gần
gũi mà cũng vừa tôn kính.

Lịch sử nước Việt từ các thời về trước, đã từng ghi lại các chiến công âm phù lừng lẫy của Ngài.

Tướng
sĩ của nhà Lý đánh quân Tống, tướng sĩ nhà Trần đánh quân Nguyên, đều
có Ngài âm phù. Các triều đại này, sau khi thắng lợi đều có lễ tạ ơn và
có sắc thượng phong cho Ngài.

Lại đến đầu hồi của cuộc khởi
nghĩa Lam Sơn, lúc ấy lực lượng nghĩa quân còn yếu, đang đồn trú ở Phản
Ấm thì giặc Minh kéo đến bao vây. Nghĩa quân người ít chống cự không
nổi, phải tan tác mỗi người mỗi nơi. Trong đêm
tối, Công chúa Thượng Ngàn đã hóa phép thành bó đuốc lớn, soi đường cho
quân sĩ, tập hợp và dẫn dắt họ đi vào đất Mường Yên, về cơ sở núi Chí
Linh. Ánh đuốc thiêng của Ngài, chỉ quân sĩ của ta biết được, còn quân
giặc thì không thể nào nhìn thấy.

Ở Chí Linh, nghĩa quân
vừa sản xuất, vừa tập luyện và tập hợp, phát triển thêm lực lượng. Thật
gian khổ, lắm phen không còn lương thực, phải lấy củ nâu củ mài thay
cơm, nhưng nhờ sự che chở của Công chúa Thượng Ngàn, quân ta vẫn ngày
một thêm lớn mạnh. Quân Minh nhiều lần đến bao vây cũng đành
phải chịu rút về. Từ Chí Linh, quân ta tiến vào giải phóng Nghệ An,
Thuận Hóa. Sau đó,với những trận thắng oanh liệt, ở Tốt Động, ở Chi
Lăng, và cuối cùng, bao vây bức hàng quân giặc ở Đông Quan,đã giải
phóng hoàn toàn đất nước.

Sau chiến thắng vẻ vang, Nguyễn Trãi
thay lời Lê Lợi, viết bản Bình Ngô đại cáo, tổng kết lại cuộc
chiến tranh. Trong bản Bình Ngô có câu: "Khi Linh Sơn lương hết
mấy tuần", là nhắc lại thời nghĩa quân ở núi Chí Linh, tuy gian
lao vất vả nhưng vẫn bảo toàn được lực lượng, vì đã được sự
âm phù, che chở của Công chúa Thượng Ngàn.

Công
chúa Thượng Ngàn, cũng như bao nhiêu vị thần thánh được mọi người
tôn thờ, chính là hồn thiêng của sông núi, bao nhiêu đời nay
dẫn dắt con cháu vững bước đi lên.

Ngài có mặt ở khắp nơi, theo bước
chân của dân chúng, khi từ miền rừng núi rồi xuống miền đồng
bằng.Vì vậy, ở nơi nào dân chúng cũng lập điện thờ, thờ phụng
Ngài.

Tuy nhiên, đại bản doanh của Ngài vẫn
là vùng núi non và các cửa rừng. Những người đi rừng, muốn
bình yên, mọi sự tai qua nạn khỏi, thường cầu xin sự che chở,
phù trợ của Ngài. Ai muốn săn bắt hay khai thác thứ gì trong
rừng, cũng đặt lễ, thắp hương, cầu xin để được Ngài chấp
thuận.


Được sửa bởi ngày 22/1/2008, 7:25 pm; sửa lần 1.

go19932008
Quyền Trượng Hồng Ngọc
Quyền Trượng Hồng Ngọc

Tổng số bài gửi : 1021
Age : 23
Registration date : 23/12/2007

Xem lý lịch thành viên http://hoicovay.com

Về Đầu Trang Go down

Re: truyện VN Ở ĐÂY

Bài gửi by go19932008 on 21/1/2008, 9:56 pm

Ngọc Phượng Công Chúa
Thời
Hai Bà Trưng chuẩn bị khởi nghĩa, ở xã Lũng Hòa, huyện Vĩnh Tường, Vĩnh
Phú ngày nay, có hai ông bà Lê Hoàn và Nguyễn Thị Kim sinh được hai
người con gái xinh đẹp, đặt tên Chàng và Chạ.

Ả (tức là chị, tiếng Việt cổ) Chàng lớn lên bị quan lại nhà Hán bắt về làm tỳ thiếp, đã phẫn uất mà chết.

Ông bà Lê Hoàn vừa thương con vừa căm thù quân xâm lược, ít lâu sau cũng đều mang bệnh và qua đời.


Chạ được ông cậu đem về nhà nuôi đến tuổi trưởng thành, lấy tên là Lê
Ngọc Trinh. Lê Ngọc Trinh quyết chí trả thù quân đô hộ nhà Hán.

Ngày đêm
bà tập luyện võ nghệ và chiêu tập lực lượng. Chẳng bao lâu, nghĩa quân
do bà chỉ huy đã đánh cho quân Hán những đòn thất điên bát đảo.

Khi Hai Bà Trưng dựng nghiệp, bà đem quân về Mê Linh tụ nghĩa, rồi tham gia nhiều trận đánh triệt hạ thành trì quân giặc, giải phóng đất nước.

Hai Bà Trưng xưng vương, bà đươc phong
là "Ngọc Trinh công chúa, Đại tướng quân", rồi đưa quân bản
bộ về vùng Vĩnh Tường làm ăn sinh sống.

Khi
quân Mã Viện kéo sang, bà lại cùng nghĩa quân lên đường tham gia chiến
đấu. Hai Bà Trưng rút về Cẩm Khê thì bà rút về trại Đàm Luân. Tên phó
tướng Lưu Long được Mã Viện giao nhiệm vụ bất ngờ bao vây trại này. Một
trận chiến đấu vô cùng ác liệt đã diễn ra tại đây, suốt một ngày trời.

Quân giặc đông, tuy bị chết nhiều nhưng
chúng vẫn ồ ạt xông tới. Bà Ngọc Trinh múa kiếm, tả xung hữu
đột giữa trận tiền. Khi kiếm gãy, bà vứt xuống đất, rồi dùng
ngay thiết lĩnh để giết giặc. Thiết lĩnh là tấm vải một đầu
có buộc đá, còn đầu kia quấn vào tay, cứ thế vung ra thành những
vòng tròn, đi tới đâu quân giặc dạt ra tới đó, thật vô vùng
lợi hại.

Tên tướng giặc thấy vậy tức giận,
cứ thúc quân lính xông bừa vào. Những chiếc sọ giặc vỡ bôm
bốp, óc lẫn máu phọt ra lênh láng, và tấm dây vải cuối cùng
cũng bị đứt, hòn đá văng ra xa. Bà Ngọc Trinh phi ngựa về phía
đầm sen trong trại, rồi cứ thế lao thẳng xuống vực, không chịu
để rơi vào tay giặc.

Tấm vải mà bà vứt lại là thuộc địa phận làng Hòa Lan, còn hòn đá thì văng ra địa phận Lũng Ngoại.

Để tưởng nhớ công lao
của bà tướng dũng cảm đã bỏ mình vì nước, mọi người hai làng
Hòa Lan và Lũng Ngoại thuộc xã Lũng Hòa đã lập đền thờ và
tôn bà là Thần Thành Hoàng.

Hàng năm mở hội làng, ở Hòa Lan có trò chơi kéo co, còn ở Lũng Ngoại có trò chơi hú đáo.

Kéo
co là trai gái trong làng chia làm hai bên cùng kéo một sợi dây ong,
bên nào kéo sang được phía mình là thắng. Còn hú đáo là lấy đá ném vào
một chiếc cọc nhỏ chôn cách khoảng mười bước chẩn rộng, hễ cứ ném trúng
là được.

Những trò chơi rất bình thường và dân giã ấy chính là để tưởng nhớ chiến công của vị anh hùng từ thuở xa xưa.

Lại có thuyết nói: Khi gươm gãy, bà Ngọc Trinh không vứt xuống đất mà đã
cởi yếm ra, buộc phần kiếm còn lại vào một đầu, rồi cầm đầu kia vung ra
bốn phía giết giặc. "Yếm" thuở ấy là một tấm vải quấn quanh ngực, và
như vậy, ngay lập tức đã trở thành một vũ khí lợi hại.

Sắc
thượng phong của triều Lê, do kiêng tên của một vị công chúa tại triều
là Lê Thị Ngọc Trinh, nên đã đổi tên bà thành "Ngọc Phượng công chúa".

Rõ là một việc làm tùy tiện của vua chúa khi đã nắm quyền hành tuyệt đối!


Được sửa bởi ngày 22/1/2008, 7:26 pm; sửa lần 1.

go19932008
Quyền Trượng Hồng Ngọc
Quyền Trượng Hồng Ngọc

Tổng số bài gửi : 1021
Age : 23
Registration date : 23/12/2007

Xem lý lịch thành viên http://hoicovay.com

Về Đầu Trang Go down

Re: truyện VN Ở ĐÂY

Bài gửi by go19932008 on 21/1/2008, 9:56 pm

Ngọc Quang Công Chúa
Dưới
thời thuộc Hán, ở thôn cự lai xã Sơn Dược thuộc động Hoa Lư,
phủ Trường Yên Ninh Bình có vợ chồng ông Vương Khôi hiền lành,
nhân đức, chăm làm việc thiện nhưng đứng tuổi rồi mà vẫn chưa
có con. Hai ông bà thường cầu khấn khắp nơi, mong trời phật phù
hộ độ trì, và bản thân cũng chăm làm nhiều việc thiện hơn nữa.

Một đêm,
bà Vương đang nằm bỗng thấy lâng lâng tựa như đang bay bổng lên không
trung, rồi thấy mình được dẫn vào một cung điện. Vị tiên chủ ra tiếp
đón rất nồng hậu rồi ân cần nói: "Đây là điện Ngọc Quang. Lượng trời vốn chẳng hẹp gì. Lòng thành của hai ông bà đã
được hai ông bà soi tỏ, nên Ngài đã cho một tiên nữ trong điện này
xuống đầu thai làm con của ông bà". Nói xong, tiên chủ cho gọi tiên nữ
ra. Bà Vương mừng quá, vội vàng đứng dậy thi lễ ...

Ngồi lại nói chuyện một lát, bà Vương thấy có tiên nữ nữa đến mời tiên chủ đi tiếp kiến Ngọc Hoàng, thế là bà đứng
dậy xin phép ra về. Vừa ra khỏi cung điện, đi được một quãng, bà Vương
cảm thấy như chạm vào một vật gì đó và người bỗng hẫng lại. Thế là bà
tỉnh mộng.

Bà kể lại câu chuyện đó với chồng, và cả hai ông bà đều vô cùng mừng rỡ.

Quả
nhiên, chín tháng mười ngày sau bà Vương trở dạ, sinh được một bé gái
mặt hoa da phấn, cực kỳ xinh đẹp. Nhớ lại lần thần mộng, hai ông bà đặt tên cho con là Tiên. Ôi! Rõ là cầu được ước thấy, nỗi vui của hai ông bà thực không nói sao cho hết!

Càng lớn lên nàng Tiên mỗi ngày càng thêm lộng lẫy, xinh đẹp. Lại chăm chỉ, nết na và thông thuệ khác thường.

Khi
ấy, dưới ách đô hộ của nhà Hán, lòng người ai nấy đều căm giận, cho nên
khắp nơi đều có lò luyện võ và mọi người chỉ chờ thời cơ là đứng dậy khởi nghĩa.

Nàng Tiên, cũng như mọi người, đêm
ngày hăng say tập luyện, và trong số các môn sinh, nàng nổi
bật lên như một nữ tướng siêu phàm, chẳng những tinh tường các
ban võ nghệ mà binh pháp, trận đồ cũng đều thông tỏ làu làu.
Tiếng lành đồn xa, khắp cả một vùng Trường Yên rộng lớn, ai
ai cũng khâm phục và người người đều náo nức tìm về. Các trận
thi đấu võ nghệ, các lần bày binh bố trận, thảy đều chứng tỏ
nàng Tiên là người tài năng, trí lực phi thường. Lại có phong
thái hết mực ung dung, đàng hoàng. Thế là mọi người nhất tề
tôn phù nàng Tiên lên làm chủ tướng.

Năm
ấy nàng Tiên vừa tròn 18 tuổi. Cũng năm ấy, cả hai ông bà bố mẹ nàng
đều già yếu rồi nối nhau lần lượt qua đời. Nàng Tiên lo cư tang báo
hiếu bố mẹ đầy đủ rồi lại cùng mọi người lao vào tập luyện. Chẳng mấy
chốc quân số của nàng đã lên tới mấy ngàn người, khí giới được trang bị
đầy đủ, lại có đủ lương thực dự trữ. Nàng Tiên dẫn quân đi chiếm phủ
Trường Yên và các vùng xung quanh. Quân giặc chống cự yếu ớt rồi sợ hãi
bỏ chạy. Thanh thế của nàng Tiên lừng lẫy khắp các miền.

Khi ấy, Hai Bà Trưng cũng đã dựng cờ khởi nghĩa. Hay tin, nàng Tiên dẫn quân bản hộ về Mê Linh ...

Đêm
hôm trước ngày tụ nghĩa, bà Trưng Trắc nằm mộng thấy sứ thần trên trời
xuống báo ngày mai có nàng Tiên ở điện Ngọc Quang sẽ đến ra mắt. Sứ
thần còn tả cả dung mạo, trang phục của nàng Tiên rồi mới trở về trời.

Sáng hôm sau, đang còn hồ nghi về giấc mộng đêm
qua thì Hai Bà Trưng được báo có vị nữ tướng ở Trường Yên đến gặp. Hai
Bà ra đón thì quả nhiên đúng như lời vị sứ thần đã báo trước. Hai Bà cả
mừng, phong ngay cho nàng Tiên là Ngọc Quang công chúa, rồi giữ luôn
lại ở bên mình, cùng chỉ huy đạo quân ở trung lộ, tiến đánh Luy Lâu.

Khi
đuổi xong Tô Định, Hai Bà Trưng xưng vương, Ngọc Quang công chúa được
cấp thực ấp ở Trường Yên và cai quản của một vùng Châu Ái.

Mã Viện kéo quân sang, Hai Bà Trưng
xuất trận, đọ sức với giặc ở Lãng Bạc rồi rút về Cẩm Khê,
tiếp tục chiến đấu. Lúc này Ngọc Quang Công chúa cũng kịp xuất
quân từ Trường Yên ra trợ chiến. Bà phi trên mình ngựa múa tít
trường thương, xông pha giữa trận tiền, vừa giết giặc vừa bảo
vệ hai vị chủ tướng. Quân ta vừa đánh vừa rút chạy. Trên mình
bà mang mười vết thương nhưng bà vẫn không hề nao núng. Hai
Bà Trưng chạy về phía cửa sông Hát, còn bà thì mở một đường
máu, chạy về xã Mã Phan thuộc huyện Lập Thạch, Vĩnh Phú ngày
nay, chỉ còn lại có 14 quân bảo hộ bên cạnh. Quân giặc vẫn
đang ráo riết đuổi theo. Bà hét lên một tiếng, cùng quân sĩ
quay lại tử chiến. Bọn giặc lăn ra chết hàng loạt nhưng phía
quân ta, tất cả những người đi theo bà cũng đều bỏ mạng. Trong
đêm tối, một mình trên lưng ngựa, bà chạy miết về phía nam, xuống
phủ Thiên Trường, mấy tên giặc còn lại cũng không dám đuổi
theo nữa.

Đến địa đầu xã Hữu Bị thuộc huyện
Mỹ Lộc, Nam Hà ngày nay, trước mặt là dòng sông rộng nước chảy
xiết, cũng là lúc sức cùng lực kiệt, bà ngửa mặt lên trời
khấn: "Xin phó thác thân này cho sông nước.Cầu xin trời đất
cho trôi về bản quán, đừng để rơi vào tay lũ giặc tanh hôi".
Khấn xong bà phi ngựa xuống sông tự vận. Đó là rạng sáng ngày
12 tháng 12 Âm lịch.

Mấy hôm sau, ở mé bờ sông thuộc địa
phận Cự Lai, Ninh Bình có xác người, ngựa trôi dạt vào. Dân
chúng đổ ra xem, thấy vị chủ tướng cũ của mình, đều vô cùng
thương xót, bèn cùng nhau kính cẩn vớt lên, làm lễ an táng rồi
sau đó lập đền thờ. Tôn hiệu vẫn giữ là Ngọc Quang Công Chúa.

Từ đó Ngọc Quang công chúa vẫn thường
hiển linh, phù hộ độ trì cho dân cho nước.

Đời Lý Thái Tông, nước ta có hạn hán lớn. Nhà vua sai lập đàn
tràng cầu mưa. Đêm hôm ấy, Lý Thái Tông vừa chợp mắt, trông thấy một
nàng công chúa từ xa tiến lại. Nhà vua bèn ngồi dậy hỏi chuyện. Công
chúa cho biết mình đang ngự tại thôn Cự Lai, vâng mệnh Ngọc Hoàng đã
làm mưa theo lời cầu khẩn của nhà vua. Lý Thái Tông tỉnh dậy, nhìn ra
ngoài, quả nhiên lúc ấy trời đang đổ nước xuống như trút.

Hôm sau thiết triều, nhà vua truyền cho Quốc sử quán và bộ Lễ tra cứu tra cứu lại lai lịch các vị thần.

Khi được biết thần thành hoàng thôn
Cự Lai là Ngọc Quang Công chúa, nhà vua bèn gia phong thêm hai
chữ nữa, gọi đầy đủ là: "Ngọc Quang Thiên Lương Công chúa".


Được sửa bởi ngày 22/1/2008, 9:35 pm; sửa lần 1.

go19932008
Quyền Trượng Hồng Ngọc
Quyền Trượng Hồng Ngọc

Tổng số bài gửi : 1021
Age : 23
Registration date : 23/12/2007

Xem lý lịch thành viên http://hoicovay.com

Về Đầu Trang Go down

Re: truyện VN Ở ĐÂY

Bài gửi by go19932008 on 21/1/2008, 9:58 pm

Phật Mẫu Man Nương
Vào
khoảng đầu thế kỷ thứ nhất, bên bờ tây sông Thiên Đức có ngôi chùa Phúc
Thắng. Trụ trì trong chùa là nhà sư Đà La, chẳng những tài cao đức rộng
mà còn có nhiều thuật phép lạ, nên được dân chúng khắp nơi kính phục,
tìm đến theo học rất đông.

Thuở ấy, trong vùng có một người
con gái tên gọi Man Nương, cha mẹ mất sớm, lại nhà rất nghèo, cũng tìm
đến chùa để theo học.

Man Nương tính tình thật thà, chất
phát, lại siêng năng chăm chỉ, nhưng vì có tật nói lắp không tụng kinh
được, nên sư Đà La giao cho việc nấu nướng để tiếp đãi các tăng ni đến
chùa.

Một đêm
vào giữa tháng năm, trời khi ấy đã khuya, Man Nương nấu chín nồi cháo
đã lâu mà nhà sư và các tăng ni vẫn còn mải mê tụng kinh niệm Phật.
Ngồi tựa ở cửa bếp để chờ, vô tình Man Nương ngủ thiếp đi từ lúc nào
không biết.

Khi tụng kinh xong không thấy Man Nương bưng
cháo lên như mọi lần, sư Đà La bèn xuống bếp để xem sự thể thế nào.
Thấy Man Nương đã ngủ say, không tiện đánh thức dậy, nhà sư liền né
người bước qua để vào lấy cháo. Không ngờ chỉ như vậy thôi, mà Man
Nương đã mang thai.

Có thai được ba tháng thì Man Nương cảm
thấy xấu hổ quá, bèn bỏ chùa ra về. Sư Đà La, sau đó cũng rời đi nơi
khác. Mấy tháng sau Man Nương sinh hạ được một mủn con gái, bèn tìm đến
nơi nhà sư đang tu hành để trả con lại.

Sư Đà La ôm đứa trẻ, cùng Man Nương
đi tới cây phù dung ở một ngã ba đường. Đó là một cây cổ thụ,
cành lá sum xuê xanh tốt, lại có cái hốc rất to ở phía gần
gốc. Đặt đứa trẻ vào trong hốc cây, nhà sư nói: "Này cây, ta
gửi con Phật. Ngươi hãy giữ lấy, sau này sẽ được thành Phật".

Nhà sư nói xong, thấy miệng hốc cây tự nhiên khép kín ngay lại.

Trước khi từ giã Man Nương, sư Đà La
bảo nàng hãy tiếp tục đi tu, rồi giao cho một cây trượng mà
bảo: "Ta cho nàng vật này. Khi nào trời hạn, đem cắm xuống đất,
tự nhiên sẽ có mưa lớn". Man Nương cung kính nhận lời.

Từ
đó, mỗi khi trời làm hạn hán, Man Nương lại cắm trượng xuống đất, thế
là trời lại đổ mưa to. Dân chúng trong vùng thấy vậy, đều rất đỗi vui
mừng và cảm phục.

Một năm, trời đổ mưa to lại thêm bão lớn,
làm cho cây phù dung có đứa bé ở trong, bị đổ. Cây trôi đến bến sông mà
phía trên có ngôi chùa sư cụ Man Nương đang trụ trì thì dừng lại, dập
dềnh ở bên mép nước.

Dân trong làng thấy vậy, bèn cùng nhau
mang thừng chão ra buộc vào để kéo cây lên. Nhưng lạ thay, mấy chục
người, rồi sau đó mấy trăm người, cùng xúm vào, mà cây vẫn không nhúc
nhích.

Giữa lúc ấy, sư cụ Man Nương chống gậy từ trong chùa
bước ra bến rửa tay. Thấy sự lạ, sư cụ bèn cầm vào một đầu dây kéo thử.
Nhưng thật chẳng ngờ, khi sư cụ vừa khẽ chạm tay vào thì cây cũng lập
tức chuyển động. Mọi người vui mừng, nhờ sư cụ kéo hẳn cây lên bờ,
trong lòng ai ấy cũng đều thấy vừa ngạc nhiên vừa vô cùng cảm phục.

Cho rằng cây phù dung này linh thiêng
nên dân làng bàn nhau sẽ cưa ra, để tạc thành tượng thờ.Nhưng
khi những người thợ mang dao, cưa đến để phát cành xẻ gỗ, thì
dao và cưa đều bị quằn, mẻ, không thể làm gì được.

Dân
làng lại phải nhờ đến sư cụ Man Nương. Chỉ sau khi sư cụ thắp hương đặt
lễ vật, khấn vái, rồi đứng ở đấy chứng kiến, thì tốp thợ mới phát cành
và xẻ cây được.

Họ cưa thân cây làm bốn khúc, dự định sẽ
tạc bốn pho tượng thờ. Nhưng đến đoạn gốc nơi có cái hốc đặt đứa trẻ
ngày trước, thì tự nhiên một tảng đá lăn ra.

Vì thấy tảng
đá làm cho các mũi cưa bị gãy, nên tốp thợ tức quá, hè nhau lấy gáy rìu
đập lấy đập để vào, cho hả giận. Lạ thật, tảng đá vẫn trơ ra, còn các
gáy rìu, tất cả đều bị quăn queo, méo mó.

Biết không thể
làm gì được, nhưng vẫn tức, tốp thợ lạ hò nhau bê tảng đá ném xuống
sông. Nhưng thật bất ngờ, chỉ vừa chạm mặt nước, thì tảng đá lóe sáng,
rồi vừa phát sáng vừa chìm xuống dưới đáy, làm cho cả một khúc sông
sáng bừng lên, cùng với những quầng sáng rộng.

Tất cả tốp
thợ kinh hoàng, thế rồi tự nhiên, không ai bảo ai, cùng lảo đảo, loạng
choạng, rồi nhất loạt ngã vật ra đất, bất tỉnh nhân sự.

Tình
thế thật vô cùng khẩn cấp. Những người được chứng kiến vội vã đi tìm lễ
vật, hương đăng, rồi mời sư cụ Man Nương xuống tận nơi khấn vái. Lại
thuê cả thợ lặn đến để vớt tảng đá lên. Chỉ đến khi các việc thật xong
xuôi, mới thấy tốp thợ dần dần hồi tỉnh lại.

Bốn khúc gỗ
cắt ở cây phù dung ra, sau đó được tạc thành bốn pho tượng thờ. Lúc ấy
nhà sư Đà La hay tin, cũng trở về chứng kiến. Ngài đặt pháp hiệu cho
bốn pho tượng là Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện, ý làđể cầu mong cho dân làng yên vui và quanh năm mưa gió thuận hòa, không bị mưa, bão, sấm, sét làm cho thiệt hại.

Ngài
lại bảo đem tảng đá vào đặt bên cạnh các pho tượng đã tạc. Thế rồi,mọi
người nhìn thấy, các pho tượng tự nhiên đều sáng bừng lên, hệt như đã
được dát bên ngoài bằng vàng, bằng bạc.

Sau đó, theo lời
dạy của nhà sư Đà La, bốn pho tượng được đưa về bốn ngôi chùa lớn trong
vùng, và các ngôi chùa này,từ đấy được mang tên như của bốn pho tượng
đã tạc. Riêng tảng đá, được đặt ở chính ngôi chùa có sư cụ Man Nương
đang trụ trì, tức là ngôi chùa có bến sông đã vớt được cây phù dung dạo
trước.

Sư cụ Man Nương còn trụ trì tại ngôi
chùa này mấy chục năm nữa rồi mới viên tịch, lúc ở tuổi gần
một trăm. Ngày viên tịch là ngày mồng bốn tháng tư (âm lịch),
đúng bốn ngày trước lễ Phật đản. Dân chúng trong vùng vừa thương
tiếc nhưng cũng vừa kính cẩn, tôn xưng sư cụ là Phật mẫu Man
Nương. Danh hiệu "Phật mẫu" này để chỉ, khi sinh thời cụ đã sinh
ra đứa trẻ (tảng đá), sau trrở thành tiền thân của bốn ngôi
chùa Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện trong vùng.

Lại nói về bốn ngôi chùa này, từ
khi có bốn pho tượng thờ mới, thì càng ngày càng trở nên linh
ứng đặc biệt. Những năm lụt lội hay hạn hán kéo dài, dân chúng
đến đây kêu cầu, đều thấy luôn luôn ứng nghiệm. Từ đấy, thiện
nam tín nữ tìm về ngày mỗi thêm đông. Để tưởng nhớ Phật mẫu
Man Nương, nên dân chúng trong vùng lấy ngày mồng bốn tháng tư
, ngày sư cụ viên tịch, làm ngày lễ hội của cả bốn ngôi chùa.

Hàng năm, cứ đến ngày này, ở các
nơi dân chúng lại nô nức tìm về trảy hội, và dùng nước sạch
để tắm rửa cho các pho tượng Phật trong chùa. Lâu dần, trở thành
phong tục, gọi là hội tắm Phật.


Được sửa bởi ngày 22/1/2008, 9:36 pm; sửa lần 1.

go19932008
Quyền Trượng Hồng Ngọc
Quyền Trượng Hồng Ngọc

Tổng số bài gửi : 1021
Age : 23
Registration date : 23/12/2007

Xem lý lịch thành viên http://hoicovay.com

Về Đầu Trang Go down

Re: truyện VN Ở ĐÂY

Bài gửi by go19932008 on 21/1/2008, 10:00 pm


Thần Núi Đồng Cổ
Tương
truyền ở núi Đông Cổ, tục gọi là núi Khả Phong, thuộc địa phâïn xã Đan
Nê, huyện Yên Định, Thanh Hóa, có vị thần nhân nổi tiếng linh thiêng và
hay hiển ứng.

Ngày ấy, Lý Thái Tông còn là Thái tử Phật Mã,
con trai trưởng của Lý Thái Tổ, nhận lệnh vua cha cùng phó tướng Đào
Thạc Phụ đem quân đi đánh Chêm Thành vào cuối màu đông năm1020.

Khi
đến Trường Châu thuộc phủ Thanh Hóa (tức Thanh Hóa) Thái tử cho đóng
quân tạm nghỉ. Nghe nói ở trong vùng có thần núi Đồng Cổ linh thiêng,
Thái tử cho mang lễ vật đến chân núi ấy, lập bàn thờ rồi khấn vái, cầu
xin sự linh ứng phù trợ.

Nửa đêm, trong màn trướng, đang lúc
mơ màng, Thái tử thấy một người thân cao 8 thước, lông mày lưỡi
mác, sống mũi cao, râu ria tua tủa cứng nhọn, mình mặc chiến
bào, đầu đội mũ trụ, tay cầm binh khí, đến trước giường của
Ngài, vái mà nói rằng:

-
Tôi là thần núi Đồng Cổ, nhân ban ngày Ngài đến thỉnh cầu, nên bây giờ
cảm ứng đến đây. Xin báo để Ngài an tâm mà vững lòng cầm quân đánh
giặc. Đã có tôi mang thiên binh đi theo giúp Ngài.

Nói
xong, thần nhân biến mất. Thái tử cả mừng, tỉnh dậy, nhưng vẫn còn nhớ
rõ gương mặt, vóc dáng, trang phục và lời dặn của thần.

Hôm
sau, Thái tử kể lại câu chuyện với phó tướng Đào Thạc Phụ, rồi hai
người phấn chấn hẳn lên, cùng dẫn quân lính tiếp tục lên đường ...

Khi
ấy, biên giới Chiêm Thành còn ở tận Quảng Bình. Tướng Chiêm Thành đóng
quân ở Bố Chính (gồm 3 huyện Quảng Trạch, Bố Trạch và Tuyên Hóa ngày
nay) vẫn thường cho quân lính ra miền ngoài cướp phá.


Phật Mã đem quân thẳng đến trước trại Bố Chính dàn trận. Bên kia, tướng
Chiêm Thành là Bố Linh cũng dàn quân tiếp chiến. Hai bên đánh nhau kịch
liệt. bên phía Đại Việt, Lý Phật Mã và Đào Thạc Phụ càng đánh càng
hăng, quả như đã có thần linh đến tiếp ứng thật, còn phía Chiêm Thành
càng đánh càng thấy núng thế, cuối cùng Bố Linh phải dẫn quân quay đầu
tháo chạy. Quân Đại Việt đuổi theo sau, đến chân núi Long Tị (ở Quảng
Trạch) thì chém được Bố Linh. Quân Chiêm Thành đại bại, số bị chết lên
đến quá nửa, số còn lại, hoặc trốn thoát, hoặc bị bắt làm tù binh.

Sau
khi thu chiến lợi phẩm, chôn cất tử sĩ xong, Lý Phật Mã đem quân chiến
thắng trở về. Khi đến Trường Châu, Thái tử không quên sửa lễ vật rất
hậu để tạ ơn thần núi Đồng Cổ. Ngoài lễ vật, Ngài còn cho lập linh vị
của thần, rồi xin phép được rước thần về Kinh đô để hộ quốc an dân.

Các vua thời Lý, khởi đầu từ Thái Tổ Lý Công Uẩn, đều rất chuộng
đạo Phật và sự cúng bái. Sau khi nghe Thái tử Phật Mã tâu trình về việc
đánh Chiêm Thành, được thần nhân phù trợ, nay xin lập đền thờ để tạ ơn,
Lý Thái Tổ vui mừng rồi chuẩn y cho ngay. Nhưng khi hỏi định xây đền
thờ ở đâu thì Phật Mã chưa trả lời được, xin khất đến lần sau. Đêm ấy,
Thái tử thắp hương trươc bài vị của thần Đồng Cổ, cầu xin hiển ứng. Nửa
đêm đang nằm ngủ, Thái tử thấy Thần về báo:

- Đa tạ Ngài có lòng thành. Xin cho lập đền ở bên phải, trong đại thành, sau chùa Thánh Thọ ấy.

Nói xong Thần lại biến đi ngay, Lý Phật Mã vái theo.

Thái tử đem chuyện trong mộng tâu vói
vua cha. Lý Thái Tổ cả mừng, truyền bảo cứ thế mà
làm. Lại dặn thêm: Tạc tượng Thần phải đúng như thấy trong mộng.

Y lời, Thái tử cho tiến hành công
việc ngay, vừ xây đền, vừa cho thợ tạc tượng. Rồi lễ động thổ,
lễ đặt nóc, lễ khánh thành, lễ yểm tượng, ... tất thảy Thái
tử đều cho bày biện thật là chu đáo.

Khi
các việc hoàn tất thì mọi người trong hoàng cung đến người nhà các quan
lại, rồi dân chúng, lũ lượt kéo về dâng hương hoa, lễ vật thật là nhộn
nhịp, tưng bừng.

Trong thời gian đang trị vì, Lý Thái
Tổ đã cho Phật Mã ra cung Long Đức ở ngoại thành để ở, ý muốn
cho Thái tử hiểu biết mọi chuyện của dân. Điều ấy cũng có
nghĩa Thái tử sau này sẽ là người lên nối ngôi báu. Tuy nhiên,
đó mới chỉ là ý định của nhà vua, còn chính thức Lý Thái Tổ
chưa ra chiếu chỉ sắc phong cho làm Hoàng Thái tử. Nhà vua lập
nhiều Hoàng hậu, nên cũng có nhiều con trai có đủ tư cách làm
vua. Việc chưa phong Hoàng Thái tử cho ai, những tưởng sẽ làm
cho các con đua nhau làm việc thiện để qua đó mà lựa chọn người
xứng đáng nhất, nhưng thực tế lại dẫn đến sự ganh đua, thậm
chí là sự tranh giành bằng nhiều cách, kể cả cách dùng vũ lực.

Năm
1028, Lý Thái Tổ băng hà. Tuy nhiên, trước khi nhắm mắt, nhà vua cũng
kịp ủy thác cho đại thần tin cậy, lập Phật Mã lên nối ngôi.

Khi linh cữu của nhà vua còn đang quàn
tại điện Long An (trong thành), các đại thần đang đến cung Long
Đức (ngoại thành) để thực hiện di chiếu đua Thái tử về nối
ngôi, thì ba người con trai khác của Lý Thái Tổ là Đông Chính
Vương, Dực Thánh Vương và Vũ Đức Vương đã họp nhau lại để cướp
ngôi.

Ba
vương này cho quân trong phủ của mình mang vũ khí đến phục saÜn trong
cấm thành, tại hai địa điểm Long Thành và cửa Quảng Phúc, đợi Thái tử
đến thì đánh úp.

Đêm trước ngày xảy ra sự kiện nói trên,
tại cung Long Đức, Thái tử Phật Mã nằm mộng thấy thần núi Đồng Cổ khi
trước lại hiện về, báo rằng:

- Ba vương em của Ngài đang lập mưu làm
phản, định sáng mai mang giáp binh phục saÜn trong thành trước cửa
Quảng Phúc. Ngài nên kíp đề phòng! Nói rồi thần nhân lại biến
đi ngay. Thái tử giật mình tỉnh dậy, rồi thức đên sáng để suy
tính các việc, "Chẳng lẽ không vào trong thành ư? Nhưng thế thì
còn ra thể thống gì nữa? Vừa lỗi đạo làm con, mọi người nhìn
vào sẽ cười chê, mà ngay ba vương kia cũng khinh ta là hèn nhát!
Phải vào thành thôi, chẳng còn cách nào khác! Nhưng nếu mang
quân đi theo cửa Quảng Phúc đường đường chính chính mà vào thì
ắt sẽ đánh nhau to. Chưa nói đến chuyện được thua, mà ngay chỉ
cần anh em đánh nhau thôi cũng đã làm bia cười cho thiên hạ!
Vậy chỉ còn cách mang quân đi để đề phòng bất trắc, nhưng chẳng
nên theo lối thẳng vào cửa Quảng Phúc, "vì tránh voi chẳng xấu
mặt nào", mà sẽ đi theo đường vòng qua cửa Tường Phù, đến
điện Càn Nguyên rồi sẽ định liệu sau vậy".

Thái tử suy nghĩ như vậy, trong bụng cảm ơn thần núi Đồng Cổ đã đến báo trước mà tránh đường ...

Qua
nhiên, khi các vị Đại thần mang di chiếu đến nơi ở của Thái tử (tức
cung Long Đức) thì Ngài cùng với họ quay vào trong thành qua cửa Tường
Phù, vì thế mà không rơi vào phục binh của ba vương kia.

Tuy
vậy, khi đã đến điện Càn Nguyên, ba vương lại mang quân đến vây đánh.
Thái tử lúc đầu cho đóng chặt cửa lại, không muốn ra tay để khỏi phải
dính máu anh em, nhưng ba vương lại càng vây bức, nên buộc lòng Thái tử
phải để Lê Phụng Hiểu và các tướng tiến công. Lê Phụng Hiểu chém chết
Vũ Đức vương. Hai vương còn lại tìm đường tháo chạy ...

Thái
tử dẫn các quan vào điện Long An, lên ngôi trước linh cữu của Lý Thái
Tổ. Ngài ở ngôi được 27 năm, thọ 55 tuổi, tức là Lý Thái Tông, vua thứ
hai của triều Lý.

Ngay sau khi mới lên ngôi, cho là mình
được cả thần linh lẫn người trần đều phù trợ, nên Ngài rất
vui sướng hả hê trong lòng. Ngài khen ngợi Lê Phụng Hiểu hết
lời, rồi thăng ngay lên chức Đô thống thượng tướng quân, tước
hầu. Còn thần núi Đồng Cổ, Ngài cũng rất mực biết ơn, xuống
chiếu phong thần làm "Thiên hạ minh chủ" cùng với tước hiệu
"Đại vương". Lại cho người mang rất nhiều lễ vật đến ngôi đền
mới xây sau chùa Thánh Thọ. Đích thân nhà vua mới đến tế lễ
và khấn vái rất là thành kính.


Được sửa bởi ngày 22/1/2008, 9:36 pm; sửa lần 1.

go19932008
Quyền Trượng Hồng Ngọc
Quyền Trượng Hồng Ngọc

Tổng số bài gửi : 1021
Age : 23
Registration date : 23/12/2007

Xem lý lịch thành viên http://hoicovay.com

Về Đầu Trang Go down

Re: truyện VN Ở ĐÂY

Bài gửi by go19932008 on 22/1/2008, 4:24 pm

Thần Tô Lịch
Thành Đại La ngày xưa được xây dựng tên phần đất cửa làng Long Đỗ. Làng này nằm bên bờ sông nhỏ chảy ra sông cái (Sông Hồng).

Tương
truyền, xưa kia trong làng có nhà họ Tô, tuy gia tư không giàu có lắm,
nhưng mọi người ăn ở với nhau thật là hiếu nghĩa, hòa thuận.

Đó là vì gia đình này từ nhiều đời
này luôn luôn có ba thế hệ cùng ở chung với một nếp nhà, nhưng
do chăm chỉ làm ăn lại biết trên kính dưới nhường, nên chẳng
hề xảy ra chuyện gì to tiếng. Đối với dân làng, họ cũng đối
xử khoan dung và làm nhiều việc nhân nghĩa, nên được mọi người
kính nể.

Sang đến đời Tô Lịch, chẳng những ba
đời, mà cả ba anh em trai, tuy đều có gia đình riêng, nhưng vẫn
cùng ăn cùng làm, vậy mà trong nhà luôn luôn êm ấm, không
bao giờ có đều gì xâu. Còn đối với dân làng, những khi giáp
hạt hoặc những năm mất mùa, họ saÜn sàng bỏ thóc gạo ra cứu
trợ người nghèo hoặc cho dân làng vay không lấy lãi. Vì thế
lại càng được mọi người mến phục.

Thời ấy, Giao Châu đang bị nhà Tấn
cai trị (264 - 420). Nhà Tấn có lệ đề cử nhưng người hiền đức,
hiếu nghĩa và các chức vị ở địa phương nên người anh cả Tô Lịch
được chức vụ Long Đỗ. Ông điều hành và xử đoán các việc có
lý có tình, lại biết thương yêu quý trọng mọi người nên hương
ấp ấy yên vui, mọi người chăm lo sản xuất và không xảy ra những
chuyện như tranh giành, đánh chửi nhau hoặc cờ bạc, trai gái trộm
cướp.

Tiếng lành đồn xa, vì thế khi ông còn
sống, dân chúng trong vùng lân cận, khi gọi tên trong làng Long
Đỗ, thường lại hay nói: "Đấy là làng ông Tô Lịch".

Khi
Tô Lịch già yếu rồi mắt, dân chúng trong vùng tiếc thương, đã lập đền
thờ ông để tưởng nhớ, và cái tên làng Tô Lịch mãi mãi được lưu truyền.

Khoảng 400 năm sau, lúc ấy vào đười
tùy đường cai trị, quân lâm ấp, Nam chiếu ở phía nam thường hay
ra Giao Châu cướp phá. Trương Bá Nghi (đời Đường) mới đắp lai
La Thành cách sông Tô Lịch khoảng 200 thước, rồi về nhiệm sở
từ Long Biên (khoảng thị xã Bắc Ninh) về đây (767). Cao Chính Bình
thay Trương Bá Nghi. Khi Phùng Hưng khởi nghĩa đánh Cao Chính Bình
rồi chiếm phủ đô hộ, cũng ở trong La Thành (791).

Triệu
Xương rồi Trương Chu sang cai trị sau đó, đều củng cố La Thành thêm.
Đến đời Lý Nguyên Gia lại đặt đến trên nền nhàcũ của ông họ Tô thuở
trước.

Lý Nguyên Gia là viên quan cai trị khôn
ngoan, lại am tường thiên văn địa lý và thông hiểu lý, số.

Trước lễ động thổ, y đi dò la nhìn
ngắm thế đất và hỏi han các bậc phụ lão trong vùng, nên đã
hiểu rất rõ lai lịch. Khi đặt nhiệm sở trên nền nhà của họ
Tô và Lý đã có tính toán kỹ càng. Đó là vùng đất bằng phẳng,
cao ráo hơn so với chung quanh, lại được cái thế là "rốn của
con rồng" (Lông Đỗ).

Lý Nguyên Gia cho nấu rượu, mổ thịt
gia súc làm cổ thật hậu để khao quan sĩ và mời tất cả các bặc
ky lão trong vùng tới dự. Lý tỏ ý với mọi người rằng sẽ làm
sớ tâu lênh vua đường xin lập Tô Lịch làm thần thành hoàng.
Rồi cũng mọi người ăn uống, chuyện trò vui vẻ.

Lý Nguyên Gia cho rằng như thế mọi
việc suôn sẻ, không bị dân sở tại có phản ứng gì. Nhưng đêm
ấy, khi nằm bên cửa sổ thiu thiu ngủ, Lý bỗng thấy một
trận gió ào tới, rồi bụi cuốn cát bay mù mịt. Tan cơn gió, trước
mặt Lý hiện ra một cụ già phương trượng, râu tóc bạc trắng,
vận phảm phục màu tía, cưỡi hươu trắng đến trước mặt bảo:

- Tôi được bẩm báo khi ban ngày Ngài
có nói với mọi người rằng sẽ lập sớ tâu lên nhà vua cho tôi
được làm Thần Thành Hoàng của đất này. Xin cám ơn Ngài, Nhưng
đó cũng chỉ là cái danh viï thừa, vì có hay không đối với tôi
cũng chẳng có can hệ gì . Sự thực thì từ mấy trăm năm trước,
khi ấy Ngài con chưa có mặt ở trên đời này, tôi đã được dân
làng tưởng nhớ lập đền thờ. Rồi Ngọc Hoàng thượng đế cũng
phong tôi làm thần cai quản cả vùng đất này, kể từ ngày ấy
trở đi. Bây giờ Ngài lập phủ lệ trên đất của tôi, sự ấy là
tùy Ngài, tôi không chấp làm gì, vì ai sống ở trên đời thì cũng
cần có một nơi để ở. Chỉ mong Ngài làm quan đầu xứ hãy bão
lũ thuộc hạ và quân lính chớ có cướp bóc, sách nhiều chúng
dân, và bản thân, khi xét xử việc gì, cũng phải thật công minh.
Có như thế thì mới xứng đáng với danh phận và trách nhiệm của
mình. Tiếng thơm của tôi để lại, hẳn Ngài hỏi hang các bậc phụ
lão trong vùng, nên biết rõ rồi. Mong Ngài cùng hãy làm như
thế?

Tuy
nói như vậy nhưng nết mặt cụ già vẫn không hề biến sắc còn giọng vẫn ôn
tồn và không hề tức giận. Lý Nguyên Gia mở mắt, há mệng ra mà lắng
nghe, như nghe lời thầy dạy bảo. Nói xong, cụ già chợt biến mắt. Lý chỉ
còn biết cách cung kính vái theo.

Khi tỉnh dậy, Lý trong đèn ngồi suy nghỉ trước sau. Lý quyết định chỉ xây phủ đệ vừa phải, và đắp
thành bên ngoài cũng nhỏ thôi, chứ không làm to tát. Một mặt Lý thấy
binh lực tiền bạc ít, sợ "lực bất tòng tâm" mặt khác Lý cũng sợ người
và thần ở đất này không dung. Lý không có biến động, mà chỉ mong được
yên thân, rồi còn có ngày trở về phương bắc vẹn toàn.

Đến thời Cao Biền sang dẹp quân Nam
Chiếu cướp phá và ở lại làm tiết độ sứ (866), ý cho
xây dựng phủ to tát, nguy nga hơn nhiều. Lại xây đắp la thành
cũng bề thế, vững chắc hơn rất nhiều so với thời Lý Nguyên
Gia. Biền cậy mình có vũ công lớn, lại bản thân là tay tướng
số lão luyện, có nhiều thuật phép và mưu mẹo thâm hiểm, nên
y tưởng răng sẽ bất chấp và khuất phục được tất cả. Nhưng y
đã lầm to!

Một
buổi đang giữa thang sáu, nước sông cái tràn vào sông nhỏ dâng cao,
Biền ngồi thuyền nhẹ thuận theo dòng nước mà vào trong thành. Đi khoảng
một dặm, y thấy một cụ già phương trượng đang vừa bơi vừa tăm ở dòng
sông, dang điệu có vẻ ung dung phấn trấn lắm. Biền bèn dừng thuyền lại
hỏi:

- Ta chỉ mới thử nhà ngươi một chút đó thôi.

Sau
buổi đó Biền về phủ đệ, đọc hết giấy tờ cũ. Rồi đi hỏi han các cụ phụ
lão trong vùng thêm. Bề ngoài thơn thớt nói cười, nhưng trong bụng thì
y căm giận, muốn trừ diệt bằng được thần Tô Lịch.

Một buổi sớm, Biền ra đứng ở bờ sông
Cái, phía đông thành Đại La, để ngắm nghìn các thế đất và tìm
huyệt định yểm. Bỗng nhiên, một trận bão nổi lên, lá rụng các
bay mù mịt và nước sông cũng dâng sóng lên cuồn cuộn. Đứng
trên mặt sóng là thần Tô Lịch mà y đã từng gặp mặt, nhưng bây
giờ trang phục thật uy nghi, tề chỉnh, lại cười trên một con hươu
trắng.

Biền giương mắt ra nhìn, chưa kịp có
phản ứng gì. Bỗng nhiên, cụ già cưỡi hươu bay vút lên, rồi đến
trên đầu Biền dâng lên hạ xuống ba lần. Đến lần thứ ba, Biền
nghe thấy tiếng nói vọng xuống:

- Nhà ngươi đừng hòng che được
mắt ta, giả vờ ra đây ngắm cảnh. Ta thừa biết bụng dạ nhà ngươi
nghĩ thế nào rồi.

Biền kinh hãi, rồi bảo mấy tên lính
hầu cùng nhau lui bước về phủ. Tuy vậy y vẫn cò nuôi ý
định trả thù.

Một tháng sau, khi đã chuẩn bị xong
xuôi, Biền xây dựng đàn tràng để niệm chú, bắt quyết.
Bùa yểm của Biền là kim đồng thiết phủ. Đêm hôm ấy, Biền xõa
tóc, cầm kiếm đứng giữa đàn tràng, miệng lẩm bẩm còn tay thì
khua khoắng lia lịa. Bỗng nhiên, sấm chớp nổi lên đùng đùng,
nước mưa đổ xuống như trút. Trong cơn mưa gió, có tiếng thiên
binh thần tướng hò reo vang lừng. Rồi trong khoảng khắc, trái
với ý đồ của Cao Biền, kim đồng thiết phủ bật ra khỏi đất
rồi biến ngay thành tro bụi, bay đi mù mịt ...

Biền
khiếp đảm, ngã vật ra đất, hai mắt trợn ngược, bọt mép sùi ra, nom thật
gớm guốc, thảm hại. Quân sĩ phải vực y vào trong trướng, đánh gió, xoa
bóp và cho uống thuốc, một hồi lâu sau là Biền mới tỉnh. Y than thầm:

- Xứ sở này nhân kiệt địa linh không
thể nào chế ngự được. Ta ở lâu ắt sẽ chuốc lấy tai họa.

Từ đấy Biền vơ vét tích cóp thạt hiều
vàng bạc, châu báo, lụa là, cùng nhiều thứ quý giá khác. Y
cho người thân tín mang về dứt lót quan thái quỳ nha đường. Mấy
tháng sau, Biền nhận được chiếu chỉ về kinh thăng chức. Tuy
là mừng đấy, nhưng khi ra về người ngượm tay chân y cứ rung lên
như rẽ.Về đến nước, y vẫn còn mắc chứng run. Mấy tháng
sau thì y mới chết.

Đây lại nói về thần Tô Lịch do có
nhiều công đức với dân chúng nên Ngài được lập là Thần hoàng,
như khi nói với Lý Nguyên Gia, Ngài đã bảo như vậy, Ngài lại
có hiều công đức với cả đất nước, vì đây là đất của quốc
đô Thăng Long sau này, như đã mấy lần Ngài cho Lý Nguyên Gia,
rồi cao Biền, biết thế nào là đất có chủ.

Dân chúng thờ phụng Ngài ở nơi lập
đền thờ thật là tôn nghiêm, thành kính. Các triều đại trước
đây cũng đều có sắc thượng phong, coi Ngài như vị Thành hoàng
thứ hai của quốc đô, sau thần chính khí Long Đỗ vậy. Hàng năm,
nhà vua đều cử quan đại thần đến đây để làm lễ quốc tế.

Đến khi người Pháp cai trị, chắc là
họ có mở sách cũ, học được thói đối xử của Cao Biền,
nên đã san bằng đền thờ thần Tô Lịch, để xây dựng lên ở đó,
là Nhà Thờ lớn hiện nay vậy.


Được sửa bởi ngày 22/1/2008, 9:38 pm; sửa lần 1.

go19932008
Quyền Trượng Hồng Ngọc
Quyền Trượng Hồng Ngọc

Tổng số bài gửi : 1021
Age : 23
Registration date : 23/12/2007

Xem lý lịch thành viên http://hoicovay.com

Về Đầu Trang Go down

Re: truyện VN Ở ĐÂY

Bài gửi by go19932008 on 22/1/2008, 4:25 pm

Thiều Hoa Công Chúa
Thời
thuôïc Hán, ở động Lăng Xương thuộc huyện Thanh Châu bên
bờ sông Đà có hai ông bà Hoàng Phụ và Đào Thị Côn sinh
được một người con gái mỹ miều, bèn đặt tên là Thiều
Hoa. Nguyên trước khi sinh, bà Côn nằm thấy một nàng thiếu nữ
sinh đẹp, xưng là con gái của Trần Tản Viên xin vào đầu thai,
nên đối với Thiều Hoa, ông bà rất mực nâng niu, chìu chuộng.
Nhưng khi Thiều Hoa 16 tuổi thì bố mẹ già yếu rồi lần lượt qua
đời.

Thiều
Hoa làm tang và an táng cho cha mẹ xong thì tìm đến ngôi chùa trong
vùng, xin xuống tóc đi tu. Đó là chùa Phúc Khánh ở trang Song Quan, nay
là xã Thiều Quan, huyện Tam Nông, tỉnh Vĩnh Phú. Nhà sư trụ trì vốn là
người có chí lớn, bấy lâu nay nung nấu ý chí đánh đuổi quân xâm lược,
nên đã thu nạp rất nhiều đệ tử, ngày thì đèn nhang tụng niệm, nhưg đêm đến lại chuyên học tập binh pháp, rèn luyện cung kiếm cùng các môn võ nghệ.

Thấy Thiều Hoa là một cô gái
nhanh nhẹn, lại thông minh khác thường nên nhà sư rất đỗi vui
mừng, coi nàng là đệ tử tin cậy nhất, truyền cho tất cả các
bí quyết và thuật pháp cao cường cùng các cách thức bầy binh,
bố trận vô cùng biến hóa.

Khi
các đệ tử trưởng thành thì cũng là lúc Hai Bà Trưng đang dấy nghiệp và
hô hào khởi nghĩa, nhà sư bèn giao các đệ tử cho Thiều Hoa quản lính
rồi nhằm hướng Mê Linh để đi ứng nghĩa.

Khi gặp mặt các gái
trai tài ba tuấn tú của miền sông Đà sông Thao, Hai Bà Trưng rất đỗi
vui mừng. Lại thử tài, thấy Thiều Hoa chẳng những võ nghệ cao cường,
lại còn tinh thông cả binh pháp nên Hai Bà Trưng đã phong cho nàng tước
hiệu công chúa rồi chho quản lý một đội quan lớn ở mé trung lộ để cùng
đi giết giặc.

Trong chiến trận Thiều Hoa đã lập nhiều chiến
công oanh liệt, đi tới đâu giặc phải tan tác tới đó. Thành Luy Lâu và
nhiều thành khác bị hạ. Đất nước thanh bình, Hai Bà Trưng xưng vương,
Thiều Hoa công chúa đem quân bản bộ trở lại quê hương. Lúc bấy nhờ nhà
sư tuổi cao đã viên tịch. Thiều Hoa vừa trụ trì trong chùa, vừa cùng
dân chúng xây dựng mở mang trang ấp thành một nơi trù phú, tươi đẹp.

Một
hôm, giữa lúc trời quang mây tạnh, Thiều Hoa đang đi dạo chơi ven cánh
đồng làng. Tự nhiên, một cơn giông xảy đến bất ngờ. Trời bỗng tối sầm
lại, sấm sét đùng đùng rồi mưa trút xuống như thác.

Một lúc lâu sau, trời đất bỗng sáng
bừng trở lại, nhưng tìm Thiều Hoa thì chẳng thấy đâu. Nhìn lên
bầu trời thấy hình bóng của bà hãy còn rõ nét, và đang bay
đi vùn vụt. Rồi một lúc lâu sau hình bóng ấy biến mất trong
không trung ...

Dân chúng ở trang Song Quan vô cùng
cảm phục, lập miếu thờ Thiếu Hoa ở nơi bà đã biết mất. Trên
bàn thờ của bà bao giờ cũng có bày một chiếc mủng nhỏ sơn
son thiếp vàng, và trong mủng có đựng mấy mảnh vải, đủ
các màu sắc. Ngày hội làng bao giờ cũng có các trò chơi đá
cầu, đánh phết. Đó là vì xưa nay, bà vẫn hay may vá cho quân
sĩ và cùng họ vui chơi sau những giờ tập luyện.

Sau
khi đánh giặc cứu nước xong, Thiều Hoa lại trở về là con gái của Trần
Tản Viên, rồi là mẫu Thượng Ngàn, trông coi 81 cửa rừng, các nơi núi
non hang động và đồi bãi trập trùng ...

Các triều đại trước kia đều có sắc thượng phong cho Bà.

Đời Hậu Lê gia phong thêm hai chữ Đại Vương.


Được sửa bởi ngày 22/1/2008, 9:39 pm; sửa lần 1.

go19932008
Quyền Trượng Hồng Ngọc
Quyền Trượng Hồng Ngọc

Tổng số bài gửi : 1021
Age : 23
Registration date : 23/12/2007

Xem lý lịch thành viên http://hoicovay.com

Về Đầu Trang Go down

Re: truyện VN Ở ĐÂY

Bài gửi by go19932008 on 22/1/2008, 4:25 pm

Thổ Thần Nước Nam
Mùa
xuân, tháng hai, niên hiệu Thiên huống bảo tượng thứ hai (1096)
vua Lý Thánh Tông thân dẫn quân theo dường biển đánh Chiêm Thành.
Nguyên phi Ỷ Lan lúc ấy cũng vừa mới sinh hoàng tử thứ hai,
được giao giúp việc nội trị ở Kinh sư (Thăng Long).

Quân sĩ rầm rộ kéo đi, đến biên giới, nhưng gặp phía Chiêm Thành phòng thủ kiên cố, nên phía Đại Việt đánh mãi không được.

Sợ ở Kinh đô có biến động, Lý Thánh Tông rút quân về Châu Cư Liêm để củng cố lực lượng, và nghe ngóng tình hình hậu phương.

Khi có tin từ Kinh đô tới báo mọi
việc vẫn tiến triển tốt đẹp, dân chúng yên ổ làm ăn, không
ở đâu có biến động gì, Lý Thánh Tông liền cho quân quay lại
tiếp tục đánh. Đó cũng là theo kế sách của Lý Thường Kiệt
"nhử cho địch vào thế bất ngờ, không kịp đối phó".

Nhưng
đoàn thuyền của nhà vua vừa đến cửa Hoàn Hải, thì bỗng đâu mây đen kéo
đến, trời đất tối sẫm. Rồi trong phút chốc, mưa to gió lớn, sóng biển
dâng lên cuồn cuộn. Thuyền ngự, thuyền chiến, thảy đều nghiêng ngả
chòng chành, không thể tiến lên được. Bất đắc dĩ, Lý Thánh Tông phải
cho các thuyền tạm lánh vào cửa sông, neo đậu lại ở một bên bờ khuất
gió.

Đêm ấy, trong thuyền ngự, nhà vua đang ngủ mơ màng,
bỗng thấy một người con gái không biết từ đâu hiện ra, lại bước lên
thuyền rồi tiến đến trước mặt ...

Nhà vua ngồi dậy để tiếp
đón. Người con gái ước chừng 20 tuổi, nét mặt thanh thú, dáng điệu dịu
dàng, trông chẳng khác nào một tiên nga, nhưng ăn vận lại giản dị, quần
xanh áo trắng và không trang điểm gì. Nhà vua hơi có vẻ ngỡ ngàng, chưa
biết phải xử trí thế nào, thì người con gái ấy đã nói:

-
Tôi là linh khí của cõi đất ở nước Nam này. Tuy sinh ra từ đất, nhưng
hồn lại lơ lửng trên cao, ở giữa chốn rừng xanh bạt ngàn. Thế rồi, bỗng
đâu con tạo xoay vần, nay hồn tôi chơi vơi ở nơi sóng nước. Bệ hạ bây
giờ hãy cho người đưa tôi lên thuyền, lần xuất chinh này có tôi âm phù,
thế nào cũng toàn thắng.

Lý Thánh Tông im lặng lắng nghe,
một tay đỡ lên cằm, như cử chỉ quen thuộc lâu nay mỗi khi Ngài gặp điều
gì khó xử. quả thực, tuy đã nghe rõ, nhưng Ngài vẫn chưa hình dung ra
nổi sự thể như thế nào. Ngài nhíu trán lại để suy nghĩ, nhưng ngay lập
tức, đã thấy người con gái ấy vụt biến đi ngay.

Ngài thấy bàng hoàng cả người, bèn cho gọi ngay Tăng Thống Huệ Lâm lại thuyền để hỏi han nguyên cớ, tức là để "giải mộng" cho Ngài.

Nhà
sư Huệ Lâm vốn nổi tiếng là một Đại sư thông tuệ, uyên bác, từ lâu được
vua vời vào tham dự triều chính và phong chức "Tăng Thống", nay theo đi
đánh dẹp cũng ví như là chỗ dựa tinh thần của Ngài vậy.

Sau khi nghe Lý Thánh Tông thuật lại giấc mộng, Tăng thống Huệ Lâm nói:

-
Thần nói hồn ở trên cao, giữa chốn rừng xanh, chắc là hồn đã nhập vào
thân cây cổ thụ. Lại nói nay hồn chơi vơi ở nơi sóng nước, thì tức la
cây đã bị bão lớn đánh bậc gốc, hiên đang trôi nổi dập dềnh nhưng cũng
chỉ quanh quẩn đâu đây, nên thần mới về để báo mộng. sáng sớm mai Bệ hạ
hãy cho quân lính mang thuyền nhỏ đi tìm, ắt là sẽ tìm thấy thần.

Quả nhiên, đúng như lời Tăng thống
nói, sáng hôm sau quân lính đi thuyền tìm thấy một thân cây cổ
thụ có hình dáng và kích thước trông bề ngoài rất giống hình
người, bèn đưa lại trình nhà vua. Lý Thánh Tông cả mừng, sai
vớt lên bàn đặt trước thuyền ngự, rồi mời tăng thống Huệ Lâm
đến thắp hương dâng lễ vật và tụng king cầu nguyện. Bài vị thờ
thần ghi rõ là: "Hậu thổ phu nhân", theo như lệnh của nhà vua.

Sau
khi cúng thần xong, mọi người thấy tự nhiên trời quang mây tạnh, sóng
yên biển lặng. Lý Thánh Tông bèn hạ lệnh cho quân sĩ lên đường. Lạ
thay, lúc ấy không có gíó thổi, vậy mà tất cả các thuyền đều lướt sóng
băng băng.

Khi đỗ bộ lên đất Chiêm Thành, đại tướng tiên
phong Lý Thường Kiệt đã dẫn đại quân xuất kỳ bất ý, đánh thẳng vào trại
lớn của đối phương, nơi hành dinh của vua Chiêm Thành Chế Củ.

Đã
tưởng quân Đại Việt rút cả về rồi, nên sau đó Chế Củ không cho phòng bị
gì, vì vậy, chỉ sau một đợt chống cự yếu ớt, đã phải đầu hàng.

Chế
Củ bị bắt, khi giải đến trước mặt Lý Thánh Tông, để chuộc khỏi tội
chết, đã phải cất đất xin dâng ba châu Địa Lý, Ma Linh, và Bố Chính ...

Quân
Đại Việt hoàn toàn thắng lợi, trở về vào tháng 6 năm ấy. Khi đoàn
thuyền đến cửa Hoàn Hải, Lý Thánh Tông hạ lệnh cho dừng lại, bảo các
thuyền ghé vào bến cũ neo đậu như lần trước.

Ý của nhà vua là muốn tổ chức ở
đây một bữa tiệc để khao thưởng quân sĩ và dân chúng, đồng
thời nhà vua sẽ dâng cỗ Thái lao (trâu, dê, lợn, mỗi thứ
một con) để hậu tạ "hậu tổ phu nhân", rồi sau đó sẽ lập đền
thờ thần vĩnh viễn ở đây. Thế nhưng, nhà vua chỉ vừa mới ban
lệnh đó ra, đã thấy đất trời tối sẫm, rồi mưa to gió lớn đùng
đùng, hiện tượng kỳ lạ hệt như lần trước.

Tăng thống Huệ Lâm thấy thế tâu rằng:

- Linh khí cõi đất của cả nước Nam
này, tất phải được thờ ở chốn Kinh đô . vậy xin Bệ hạ hãy
xuống lệnh cho rước thần về Thăng Long, để xứng đáng với địa
vị cao quý của thần, rồi sẽ lập đền thờ sau vậy.


Thánh Tông cho lời tâu ấy là phải, bèn ra lệnh bảo quân sĩ cứ giết mổ
gia súc để tế thần ở nơi đã tìm thấy lần trước, rồi sau đó mọi người sẽ
ăn mừng, còn chưa tổ chức lập đền thờ thần vội.

Lạ thay, khi lệnh ấy vừa ban ra, đã thấy trời quang mây tạnh trở lại.

Về tới Kinh đô , nhà vua sai chọn một
khu đất cao ráo ở làng An Lăng (tức làng Láng) ven kinh thành,
để làm nơi lập đền thờ Thần.

Đền đài
nguy nga, tráng lệ. Tượng thần đặt trên ngai, được tạc lại chính từ gốc
cây cổ thụ có hình dáng người đã tìm thấy ở cửa Hoàn hải khi trước. Từ
mặt mũi cho đến hình dáng, trang phục của thần, đều giống y như người
con gái mà nhà vua đã mộng thấy trong thuyền ngự khi tránh mưa bão
trước đây.

Đền rất thiêng. Đầu năm mới nào nhà vua cũng cử
quan đại thần đến để làm lễ quốc tế. Năm nào dân chúng làm ăn cũng thấy
được mùa, sản vật trong nước dồi dào. Những khi hạn hán hay sâu bệnh,
đến cầu đến cầu đảo cũng đều ứng nghiệm cả.

Ấy vậy mà, có
kẻ bán bổ lại dám bảo thần chỉ là một khúc gỗ trôi được vớt lên thôi,
vì vậy, đã phải chuốc lấy tai vạ. Tuy thần chẳng chấp những lời ấy,
nhưng lệnh của nhà vua, và sau đó là lệnh của bà Ỷ Lan nhiếp chính, vốn
là người cũng rất sùng lễ bái, nhưng lại có gan giết Dương Thái Hậu và
76 cung nữ vô tội, đã ban ra phạt rất nặng những người dám báng bổ này.

Đến
thời Lý Anh Tông trị vì (1138 - 1175), khi ấy ngôi đền xây cất đã được
trọn một trăm năm, trong nước xảy ra hạn hán lớn. Quần thần xin với nhà
vua lập đàn Nam giao để tế trời, đồng thời với tế thần "Hậu thổ phu nhân" ở đền An Lăng, gọi là "phối thờ", "hợp tế".

Quả nhiên, sau đó được trận mưa to,
lúa má hoa màu tươi tốt, dân chúng hồ hởi, vui mừng ... Vua Lý
Anh Tông bèn gia phong cho thần thêm chữ "đại", gọi là "hậu thổ
đại phu nhân".

Đến triều Trần, thần lại còn được
trọng vọng hơn nữa. Năm Trùng Hưng thứ nhất (1285) đời Trần Nhân
Tông, phong thần là " Hậu thổ thần địa kỳ nguyên quân". Năm
Hưng Long 21 đời Trần Anh Tông, gia phong thêm bốn chữ "Ứng thiên
hóa dục". Còn tục lệ thờ cúng thần thì vẫn y theo như từ triều
Lý: Đến tiết lập xuân, cùng với lễ quốc tế, đều "phải đem
một con trâu bằng đất nặn, để ở dưới đền thờ thần" (lệnh có
từ thời Lý Anh Tông).


Được sửa bởi ngày 22/1/2008, 9:40 pm; sửa lần 1.

go19932008
Quyền Trượng Hồng Ngọc
Quyền Trượng Hồng Ngọc

Tổng số bài gửi : 1021
Age : 23
Registration date : 23/12/2007

Xem lý lịch thành viên http://hoicovay.com

Về Đầu Trang Go down

Re: truyện VN Ở ĐÂY

Bài gửi by go19932008 on 22/1/2008, 4:26 pm

Trường Tân Nhị Vị Tướng Quân Lê Thạch, Hà Anh
Hai
vị tướng quân, một là Lê Thạch, tự Phúc Sơn, Một là Hà Anh,
tự Quang Hoa, đều người ở La Sơn, Diễn Châu, nay thuộc Đức Thọ,
Hà Tĩnh. Trong khoảng niên hiệu Thiệu Hưng đời Trần Nhân Tông,
hai vị theo phò Thái tử có công lao, được phong là Chánh, Phó
Thị đô lang tướng.

Thời ấy, sau khi nhà Nguyên đánh xong
nhà Tống, vua Nguyên sai sứ là Ngột lương sang nước ta, truy hỏi
địa giới cũ theo cột đồng Mã Viện. bất đắt dĩ vua Trần Nhân
Tông phải cho quan Hàn Lâm hiệu thảo Lê Kính Phu đi cùng với
Ngột Lương để tìm. Nhưng nhà vua lại sai hai tướng Lê Thạch, Hà
Anh dẫn hơn hai ngàn quân cấm vệ gươm giáo chỉnh tề, đi theo hộ
tống.

Thừa rõ âm mưu của nhà Nguyên muốn
xâm lược nước ta, cho sứ gia sang chẳng qua chỉ để do thám và
nắn gân trước, nên vua Trần Nhân Tông và triều đình đã lo kế
hoạch đối phó. Một mặt nhà vua ra chỉ dụ cho Lê Kính Phu mềm
mỏng thu xếp với Ngột Lương nhưng nhất thiết không dẫn y tới
chỗ tương truyền là cột đồng. Mặt khác nhà vua cũng dặn Lê
Thạch, Hà Anh saÜn sàng hành động để gây thanh thế.

Lê Kính Phu dẫn Ngột Lương đến vài
nơi rồi cho người đào bới mà chẳng tìm thấy gì. Ngột Lương có
ý nghi ngờ, rồi bực tức lên giọng hạch sách. Lê Kính Phu vẫn
nhã nhặn. Được thể, Ngột Lương bắt phải tìm bằng được cột đồng.
Lê Kính Phu lại dẫn y đến vài chỗ vu vơ khác. Cuối cùng, hơn
một tháng sau, chẳng có tăm hơi, Ngột Lương vô cùng tức giận,
không cho Lê Kính Phu và những người đi theo ra về, vẫn phải bắt
tìm cột đồng cho bằng được ...

Lê Kính Phu bàn với hai vị tướng:"Tên
sứ giả này quá quắt lắm, liệu hai ông có kế sách gì không?"

Lê Thạch nói: "Kế sách là ở như ngài,
chúng tôi con nhà võ, chỉ biết có đánh thôi"

Hà Anh tiếp thêm: "Chúng tôi nay thân
đã ở biên giới, giống như mũi tên đã lắp saÜn trên dây cung,
chỉ tách cái là xong. Xin Ngài cũng chớ nên ngại. Chúng ta quyết
chẳng thể làm nhục mệnh vua được".

Lê Kính Phu hiểu ý, hôm sau nói thẳng
với Ngột Lương:

- Xin Ngài hiểu cho, xưa kia Mã Viện
đến Phương Nam, chỉ thấy sử sách tương truyền là có dựng trụ
đồng, nhưng chẳng ghi rõ là dựng ở đâu. Vả lại, nếu có dựng
thì đã ngoại ngàn năm, dẫu là cột đồng thì cũng đã hư hại,
mục nát rồi, làm sao bây giờ có thể tìm thấy được?"

Ngột Lương tức quá, định văng ra lời
quát nạt, nhưng thấy Lê Thạch, Hà Anh xắn tay áo, lại trợn mắt
nhìn trừng trừng, nên y cứng họng lại.

Rồi giả đò nói mấy câu mềm mỏng
lấy lòng, y lảng sang chuyện khác. Ngay ngày hôm sau, y lập tức
đánh bài chuồn ...

Ngột Lương hồi cung Nguyên, đem các
chuyện về tâu lại với nhà vua của y. Vua Nguyên cho rằng Đại
Việt khó nuốt, vậy hãy chiếm lấy Chiêm Thành trước. Chiêm Thành
ở phía trong, nếu đánh được, thì về sau đánh Đại Việt cũng chẳng
khó gì.

Vua Nguyên sai Toa Đô, Ô Mã Nhi, Trương
Hổ đem mười vạn quân thủy, từ Hải Nam tiến thẳng vào Kinh đô
Chiêm Thành. Vua Chiêm Thành đầu hàng, nhưng khi đại quân Nguyên
rút đi, vua Chiêm cho quan quân đánh trả lại bọn quân Nguyên
ở lại chiếm đóng.

Vua Nguyên giận lắm, sai bọn tướng
cũ tiếp tục đi đánh Chiếm Thành lần thứ hai. Ngột Lương nhân
đó trình bày cách thừa cơ chiếm lấy Đại Việt bằng việc mượn
đường sang đánh Chiêm Thành. Vua Nguyên nghe theo, lập tức cho
sứ giả lên đường để thực hành kế đó. Mặt khác, vua Ngyên cũng
cho đại quân tiến vào, áp sát ngay ở biên giới Đại Việt.

Thấy sứ giả đến mượn đường, vua Trần
Nhân Tông cho vời các đình thần lại họp bàn. Người đồng ý cho
mượn, người thì không, vua Trần cũng băn khoăn chưa quyết. Mấy
ngày sau, chợt có quân canh phòng biên giới cấp báo quân Nguyên
đã tới nơi, vua Trần lo lắng, bảo với tả hữu: "Quân Nguyên thế
mạnh, ta phải làm gì bây giờ?". Mọi người lại họp bàn nhưng
hồi lâu vẫn chưa ngã ngũ, và trong số đó, đã có vài người
tỏ ý lo sợ. Lê Thạch thấy thế bước ra:

- Muôn tâu bê hạ. Quân Nguyên ngang
ngược, cái ý xâm lược thực đã rõ ràng, còn mượn đường chỉ
là cái cớ. Thần dẫu bất tài, cũng xin đem một đạo quân đến
giữ chỗ hiểm yếu ở ải Trấn Nam, quyết chém bằng được đầu tướng
Nguyên để đền đáp ơn sâu của bệ hạ.

Hà Anh cũng bước ra nói tiếp:

- Thần cũng xin mang quân đi giết giặc
với Lê tướng quân, xin Bệ hạ chuẩn y cho.

Vua Trần Nhân Tông cả mừng, phong Lê
Thạch làm Uy linh thượng tướng quân, thống lĩnh bốn mươi quân
doanh, đến đóng ở cửa Hải Ải, phong Hà Anh làm Đông lãm đại
tướng quân, cũng thống lĩnh bốn mươi quân doanh, đến cửa Cao Lâu
đóng giữ.

Hai vị tướng dẫn quân rầm rộ tiến
lênh phía Bắc, đi về phía Kháo Sơn. Nhưng khi vừa đến châu An Bát
thì đã gặp ngay quân Nguyên đang tiến vào. Hai vị tướng lập tức
dàn quân, bày thế trtận giao chiến. Lê Thạch cầm ngang cây đại
lao, phóng ngựa phi lên trước. Hà Anh duỗi cây bát đồng mâu,
quất ngựa tiến theo sau. Phía bên kia, tướng Nguyên Triệu Tộ cũng
cầm vũ khí cưỡi ngựa xông ra.

Triệu Tộ đánh nhau với Lê Thạch nhưng
sức địch không nổi, phải quay ngựa bỏ chạy. Lê Thạch đuổi theo
sát phía sau. Hà Anh vòng ngựa sang bên trái chặn đường. Triệu
Tộ trở tay không kịp, bị Hà Anh dùng bát đồng mâu đâm chết.
Tỳ tướng của Triệu Tộ là Giải Ninh cũng bị quân ta giết luôn.

Trong trận mờ màn này ba nghìn quân
giặc bị giết, phó tướng của Triệu Tộ cùng hơn năm chục tên
khác bị bắt. Lê Thạch, Hà Anh sai người dẫn đám tù binh về Kinh
đô báo tin thắng trận.

Sau đó, hai vị tướng tiếp tục dẫn quân
tiến lên, gặp quân Nguyên ở Thuận Châu, rồi ở Phai Phụ. Cà
hai trận này quân Nguyên đều thất bại. Tướng thống lĩnh Toa Đô
tức giận nhưng không làm gì được, phải chuyển đại quân sang đường
biển, tiến vào đánh các châu Gia Lâm, Đông Ngàn, Vũ Ninh rồi
áp sát Kinh đô .

Vua Trần cùng triều đình rút về Ứng
Phong, phong Trần Quốc Tuấn làm Hưng Đạo đại vương, thống lĩnh
tất cả binh mã trong nước chống giặc. Trần Quốc Tuấn viết lời
hịch truyền đi khắp nơi, động viên cổ vũ tinh thần tướng sĩ ...

Hai vị tướng Lê Thạch, Hà Anh sau ba
trận làm cho quân Nguyên thua liểng xiểng, đã hạ trại lập đại
bản doanh để chuẩn bị những trận chiến đấu tiếp theo. Nhưng chờ
mãi, không thấy quân Nguyên tới. Sau lại hay tin quân Nguyên
đã theo hướng khác tiến vào Kinh thành. Hai vị bàn nhau rút quân
trở về để cùng đại quân của Trần Quốc Tuấn chống giặc.

Nào ngờ, khi hai vị cùng quân lính đi
vào địa giới Phượng Nhân thì bị phục binh của quân Nguyên.

Từ bốn phía tên bắn ra ào ào. Hàng
ngũ quân ta rối loạn. Rồi từ nhửng ổ mai phục, quân Nguyên
ồ ạt xong ra. hai vị tướng cùng quân sĩ chiến đấu quyết tử với
giặc, suốt từ sáng đến trưa vẫn không nao núng, mặc dù số thương
vong cũng đã khá nhiều. Lê Thạch cười nói với Hà Anh: "Người
xưa đã nói tráng sĩ ra trận không chết thì cũng bị thương.Nay hai
chúng ta gặp ngày chết rồi, nhưng dẫu sau cũng phải cho quân
Nguyên biết thế nào là hào khí Đại Việt chứ?"

Thế là hai vị lại tiếp tục chiến đấu
từ giữa trưa đến tận chiều tối, và đến lúc ấy cả hai đều đã
kiệt sức. Tướng Nguyên lừa thế, dùng dây kéo ngã chân ngựa,
rồi xông vào bắt cả hai người.

Kế phục binh này là của Toa Đô. Y
biết rằng đường dàn trận đánh nhau thì sẽ không hạ nổi hai vị
tướng Đại Việt. Lại biết hai vị nhất định sẽ quay về cứu viện
Kinh đô, nên y đã sai Trương Hằng đặt binh giăng bẫy trước.

Trương Hằng dẫn hai tướng Lê Thạch,
Hà Anh bị bắt đến ra mắt Toa Đô, lúc ấy đang đóng bản doanh ở
mé sông Việt Đức. Toa Đô bước đến tận nơi để nhận mặt, và
khi ngắm kỷ dung mạo của cả hai người, y lẩm bẩm "Thật danh bất
hư truyền", rồi sai lính cởi trói, và mời hai vị dùng cơm rượu.

Lê Thạch, Hà Anh hất tay lính ra, lớn
tiếng mắng nhiếc bọn tướng Nguyên là đồ cướp nước, lại còn
bảo chúng rằng tướng Đại Việt thà chết chứ không thèm ăn thứ
của phi nghĩa ấy ...

Kế hoạch dụ hàng của Toa Đô thất
bại. Y tức giận, sai lính dẫn hai vị ra bờ sông chém, rồi vứt
xác xuống sông.

Xác của hai vị theo dòng sông trôi
xuôi đến bãi cát ở bến Trường Tần thì quay vòng mà không đi
nữa. Đêm ấy, dân trong làng nghe thâý ở bến sông nhiều tiếng
chim kêu buồn thảm, như là có oan hồn hiện về. Sáng ra, mọi
người thấy đầu và thân thể của hai vị tướng nổi lập lờ trên
mặt nước. Tuy chưa thâý mặt của hai vị bao giờ, nhưng nhìn vào
trang phục, diện mạo, dân chúng đều biết rõ là người của phía
bên mình.

Mọi người bảo nhau xúm vào vớt thi
thể của hai vị lên, rồi xếp đầu vào thân thể đúng theo vết
chém cho khỏi lẫn. Sau đó, lấy gỗ đóng quan tài, rồi đem mai
táng rất là trọng thể.

Đến khi dẹp xong giặc Nguyên, vua Trần
Nhân Tông xuống chiếu ban thưởng cho những người có công với
nước. Khi nghe tấu trình về hành trạng và công lao của hai vị
tướng Lê Thạch, Hà Anh, nhà vua vừa thương xót vừa vô cùng cảm
kích, bèn truy phong Lê Thạch là Chính trực đại vương và Hà Anh
là Cương đoán đại vương. Lại xuống chiếu ban thưởng cho dân làng
Trường Tân (xã An Tân huyện Gia Phúc) tiền bạc để lập đền miếu
thờ cúng vong linh của hai vị tướng, cùng ruộng tự điền để dùng
vào việc tế lễ.

Đến năm Trùng Hưng thứ tư, tặng thêm
cho Lê Thạch hai chữ "Diệu cảm", Hà Anh hai chữ "Hùng nghị". Năm
Hưng Long thứ 21, lại tặng thêm Lê Thạch bốn chữ "Hiển ứng an
dân", Hà Anh bốn chữ "Triệu cơ khai thủy".

Hai vị được tôn là phúc thần của làng
Trường Tân. Đến nay, đền miếu hãy còn uy nghi, hương khói quanh
năm không lúc nào dứt.


Được sửa bởi ngày 22/1/2008, 9:40 pm; sửa lần 1.

go19932008
Quyền Trượng Hồng Ngọc
Quyền Trượng Hồng Ngọc

Tổng số bài gửi : 1021
Age : 23
Registration date : 23/12/2007

Xem lý lịch thành viên http://hoicovay.com

Về Đầu Trang Go down

Re: truyện VN Ở ĐÂY

Bài gửi by go19932008 on 22/1/2008, 4:28 pm

Xuân Nương Công Chúa
Châu
Đại Man, nay là các huyện Tam Nông, Thanh thủy, Cẩm Khê của tỉnh Vĩnh
Phú, dưới thời nhà Hán đô hộ, do một vị Lạc tướng người Việt trông coi
tên là Hùng Sát. Hùng Sát thuộc dòng dõi Hùng Vương. Ông sinh được
nhiều con, trong đó có con trai trưởng là Hùng Thắng và con gái út là
Xuân Nương.

Khi Xuân Nương mới được hơn ba tháng thì bà mẹ nhuốm bệnh qua đời.

Hơn ba năm sau, người cha cũng mất. Xuân Nương ở với anh cả.

Khi
Thi Sách cùng với hai chị em bà Trưng chuẩn bị khởi nghĩa thì Hùng
Thắng cũng có tham dự. Việc bại lộ, cả Thi Sách, Hùng Thắng và mấy
người em trai đều bị thái thú Tô Định giết chết. Xuân Nương phải bỏ
nhà, trốn đi lang thang rồi sau đó vào ẩn náu trong một ngôi chùa. Ở
đây ngày đêm bà tập luyện võ nghệ, nung nấu ý chí trả thù nhà đền nợ nước. Tiếng tăm của bà mỗi ngày mỗi lan rộng, nhiều hào kiệt và dân chúng trong vùng đã về đây tụ hội.

Trong
những ngày đầu khi Hai Bà Trưng dấy nghiệp, Xuân Nương đã đem quân bản
hộ về Mê Linh để gia nhập hàng ngũ nghĩa quân. Bà được Hai Bà Trưng giao cho quản lĩnh một doanh trại lớn, đóng ở xã Hương Nha ngày nay. Ngày đêm bà cùng quân lính tập luyện saÜn sàng chiến đấu.

Trong trận hạ phá thành Luy Lâu, Xuân Nương đã lập được nhiều chiến công. Hai Bà Trưng xưng vương, bà được phong là công chúa. Rồi chính Trưng Vương đứng ra xe duyên cho Xuân Nương lấy Thi Bằng là em chồng của bà.

Hai
vợ chồng Thi Bằng là người thân tín, từng giúp rập Hai Bà Trưng nhiều
công việc to lớn trong những ngày đất nước thanh bình.

Khi Mã Viện kéo quân sang xâm lược, hai vợ chồng Thi Bằng đều là những tướng lĩnh gan dạ, quyết tử.

Tướng quân Thi Bằng đã hy sinh oanh
liệt giữa trận tiền. Hay tin, bà Xuân Nương nai nịt gọn gàng rồi
phi trên mình ngựa, kéo quân đi đánh báo thù.

Trận chiến đấu kéo dài suốt từ sáng đến trưa. Lúc này Xuân Nương đã có mang 5 tháng nên sức lực suy kiệt, đành phải mở một đường máu rút lui.

Quân sĩ dìu Xuân Nương về đến bến Nam Cường thì bà bị động thai, hoàn toàn kiệt sức, phải nằm lại, lúc ấy cũng đã là êm tối.

Sáng
hôm sau, thấy tình thế hoàn toàn tuyệt vọng, bà dặn dò quân sĩ hãy tản
đi các nơi, còn tự mình đi ngựa về phía chùa Hương Nộn.

Tại đây, bà đã gieo mình xuống dòng sông Thao ở phía trước để tử tiết.

Về
sau, mọi người lập đền thờ bà tại xã Hương Nha và Hương Nộn,
một nơi trước kia là đại bản doanh, còn một nơi là những phút
lâm chung của bà. Bà được tôn là thần thành hoàng của cả hai
xã.

Lễ hội hàng năm ở đây đều được tổ
chức trọng thể.

Ở Hương Nha có làm cỗ chay để tưởng
nhớ những ngày trước kia bà Xuân Nương khổ công luyện tập cùng
quân sĩ. Lại có các trò chơi đánh vật, kéo co và hát đối đáp,
cũng là để nhớ sự tập luyện và vui chơi của quân sĩ trong một
thuở xa xưa ...

Ở Hương Nộn, ngoài các trò chơi, còn
có hát xoan. Hát xoan là một tên gọi chệch của hát xuân, nhưng
vì để kiêng tên bà, đã gọi ra như thế.

Xuân Nương công chúa thường hiển linh,
phù hộ độ trì cho nhiều tướng lĩnh mỗi khi xuất quân ra trận.
Các triều đại trước kia đều có sắc thượng phong cho bà.


Được sửa bởi ngày 22/1/2008, 9:41 pm; sửa lần 1.

go19932008
Quyền Trượng Hồng Ngọc
Quyền Trượng Hồng Ngọc

Tổng số bài gửi : 1021
Age : 23
Registration date : 23/12/2007

Xem lý lịch thành viên http://hoicovay.com

Về Đầu Trang Go down

Re: truyện VN Ở ĐÂY

Bài gửi by go19932008 on 22/1/2008, 4:29 pm


Hoàng Oanh Anh Nông Dân Và Thần Núi

Chuyện
này đã lâu lắm rồi. Một anh nông
dân quanh quẩn thế nào một hôm lại
lạc vào rừng sâu và gặp ngay thần
Núi. Phải nói rỏ ràng anh nông dân
chỉ mới biết bóng dáng của thần
Núi qua các tranh vẽ mà thôi. Nhìn thấy
anh, thần núi quát tướng lên:


- Anh kia, mi là người trần! Phải biết rằng ai đã đến đây cũng không thoát khỏi tay ta, đừng có chạy. Ta phải ăn thịt ngươi! Sửa soạn đi thôi.


Anh nông dân sợ rung cả người nhưng cố trấn tỉnh đáp lại:


- Tôi đã nghe nói đến ngày rất nhiều. Vậy ra ngài là thần Núi? Rừng rậm thế này tôi cũng chẳng thoát được với ngài. Tôi đã sẵn sàng, ngài muốn làm gì tùy ý. Nhưng ngài có thể rộng lượng cho tôi được nói một điều không?


- Nào, còn muốn nói gì nữa? Nói cho tường tận, Thần Núi hét to.


Anh nông dân liền nói:

- Người ta đồn rằng thần Núi có thể biến thành cái gì cũng được. Tôi chỉ khao khát rằng trước khi bị ngài ăn thịt, tôi được thấy tận mắt cái tài của ngài coi nó thế nào.


Thần núi cười sằng sặc:

Cái đó có hề chi. Nói đi, anh muốn ta biến thành thứ gì nào?


- Xin ngài biến thành cây đại thụ. Bằng cây nào cao nhất xung quanh đây mới giỏi.


- Anh nói.

Trong nháy mắt, thần Núi đã biến thành một cây đại thụ ngọn cao nhất, tưởng chạm đến cả trời.

Anh nông dân đưa tay vuốt thân cây mà khen lấy khen để:

- Đúng là thần Núi rồi! Mình không ngờ rằng cây đại thụ lại cao lớn như thế.

- Anh đã thấy phép lạ của ta chưa? Đủ rồi chứ?

- Thần Núi đắc chí hỏi anh.

Nhưng anh nông dân lại xin thêm một điều nữa:


- Tôi muốn xem ngài biến thành tảng đá nữa...

Tức thì thần Núi không còn cây đại thụ mà đã hóa thành một ngọn núi cao sừng sững trước mặt anh. Lần này anh lại khen lấy khen để thần Núi, rồi cuối cùng anh nói:

- Thế là ngài đã biến được thành hai thứ to lớn nhất mà tôi vẫn ao ước được thấy. Vậy ngài có thể biến thành một thứ gì nhỏ tí tỉ tì ti không ạ? Ngài trổ tài lần nữa xem, ngài thử biến thành một hạt đậu trên bàn tay tôi đi nào...nào...


- Hừm... thế thôi à?


- Thần Núi cả cười, nhăn cả cái mũi dài thườn thượt.


Thần núi biến ngay thành một hạt đậu nhỏ tẹo trên lòng bàn tay anh nông dân.


Anh bỏ luôn hạt đậu vào mồm, nhai nhai và nuốt chửng.


Từ đó người ta quen miệng chế giễu những chàng có tính khoe khoang là "Thần Núi".


Được sửa bởi ngày 22/1/2008, 9:47 pm; sửa lần 1.

go19932008
Quyền Trượng Hồng Ngọc
Quyền Trượng Hồng Ngọc

Tổng số bài gửi : 1021
Age : 23
Registration date : 23/12/2007

Xem lý lịch thành viên http://hoicovay.com

Về Đầu Trang Go down

Re: truyện VN Ở ĐÂY

Bài gửi by go19932008 on 22/1/2008, 4:30 pm

Con Rùa Vàng

Xưa
kia có hai người bạn chơi với nhau rất
thân, hiềm vì một người thì giàu,
còn một người nghèo. Người bạn
giàu có cái tên là Đại Phú, còn
người nghèo tên là Chí Quân.


Vợ chồng Đại Phú thấy bạn nghèo thì có ý muốn giúp đỡ vốn liếng để làm ăn. Chí Quân lòng dạ ngay thẳng ngại rằng lấy tiền của bạn đem về, rủi làm ăn thất bát thì lấy đâu mà trả cho bạn. Vì vậy nên từ chối việc giúp đỡ của bạn.


Nhà Đại Phú chẳng thiếu gì của qúi, nhưng lại muốn có thêm của lạ nên hôm nọ lấy năm nén vàng đưa cho một người thợ bạc đặt làm con rùa vàng. Ngày kia, Chí Quân đến thăm bạn, Đại Phú liền đem con rùa vàng ra khoe. Chí Quân xem rồi để trong một cái đĩa, đoạn cùng bạn uống rượu đến say khướt nằm ngủ quên.


Lúc bấy giờ, con trai của Đại Phú đi học ở xa về, thấy con rùa vàng lấy đem đi chơi. Đến chừng Chí Quân ra về được
một lát, Đại Phú mới sực nớ tới con rùa vàng, hỏi vợ thì vợ nói không
có lấy cất. Đại Phú lấy làm bối rối, chẳng lẽ nghi cho người bạn tốt
của mình ăn cắp con rùa vàng?


Ngày sau, Đại Phú đến nhà Chí Quân chơi, nhân tiếc con rùa vàng có hỏi mát bạn rằng:


- Này anh, hôm trước anh có lấy con rùa vàng của tôi đem về để cho chị coi không?


Nghe vậy Chí Quân nghĩ thầm rằng: Có lẽ bạn ta nghi ta ăn cắp con rùa
vàng chăng? Nhưng chẳng lẽ bảo là không lấy thì chi cho khỏi phật lòng
bạn mình, nên đành nhận là có lấy.


Đại Phú mới bảo ban:


- Thôi được, anh cứ giữ con rùa vàng mà chơi. Tôi xin biếu anh.


Đại Phú về rồi, vợ chồng Chí Quân lấy làm lo lắng, làm sao có con rùa vàng để trả cho bạn. Vợ chồng bàn nhau bán nhà bán cửa cho ông Phú và xin làm người hầu hạ để có đủ tiền làm con rùa vàng trả cho bạn.


Ông Phú biết chuyện lấy làm động tâm, mới gọi người thợ bạc đến làm một con rùa vàng khác, trao cho vợ chồng Chí Quân đem về trả bạn và cũng không nhận vợ chồng Chí Quân làm người hầu hạ, mà chỉ cho ở nhờ.

Được ít lâu, người con trai của Đại Phú trở về nhà có đem theo con rùa vàng đã lấy độ trước, trả cho cha mẹ và nói:


- Hôm nọ, con về nhà thình lình thấy con rùa vàng để trong đĩa nên con lấy cất đây, nếu gặp phải kẻ gian thì mất luôn rồi. Vậy con xin trả lại.


Thấy vậy, vợ chồng Đại Phú vô cùng ngạc nhiên. Rùa vàng con mình lấy đem đi chơi, rùa vàng nào bạn đem trả? Mới nghĩ ra, có lẽ người bạn nghèo sợ mình phiền trách nên làm con rùa khác để thế.


Bấy giờ Đại Phú mới đem con rùa vàng đến nhà Chí Quân để trả lại và xin lỗi bạn. Nhưng nhà đã bán rồi, vợ chồng bạn lại ở nhờ trong nhà ông Phú. Lập tức Đại Phú đến gặp ông Phú trao trả con rùa và xin đưa vợ chồng bạn về. Ông Phú từ chối như vầy:


- Anh có mượn rùa của tôi đâu mà trả? Còn vợ chồng Chí Quân tôi có bắt buộc gì đâu mà lãnh về? Còn Chí Quân nhận mình mắc nợ ông Phú nên không chịu về.


Câu chuyện trở thành rắc rối, cả ba mới đưa nhau đến cửa công
để nhờ phân xử.


Lẽ tự nhiên quan trên không biết xử làm sao đối với ba người ngay thật và tốt bụng.


Được sửa bởi ngày 22/1/2008, 9:52 pm; sửa lần 1.

go19932008
Quyền Trượng Hồng Ngọc
Quyền Trượng Hồng Ngọc

Tổng số bài gửi : 1021
Age : 23
Registration date : 23/12/2007

Xem lý lịch thành viên http://hoicovay.com

Về Đầu Trang Go down

Re: truyện VN Ở ĐÂY

Bài gửi by go19932008 on 22/1/2008, 4:30 pm


Ăn Trầu Ngắt Đuôi
Thuở
ấy, ở xóm kia có chàng thanh niên và cô thiếu nữ rất xứng đôi vừa lứa. Cha mẹ của đôi bên đều bằng lòng kết tình thông gia nhưng chưa nói cho con mình biết.


Vì quá yêu nhau, hằng đêm cô thiếu nữ lén mở cửa phòng rước cậu trai vào tình tự. mãi đến gà gáy hừng đông, cậu trai mới ra về. Cứ như vậy ngày này qua tháng kia.


Buổi nọ, trước khi về, cậu trai ao ước được ăn một miếng trầu. Nhìn trong khay thấy hết trầu, cô thiếu nữ liền chạy ra vườn hái lá đem vô, têm vôi, mời chàng. Dè đâu miếng trầu nhai chưa dập chàng nọ ngã lăn, trào đờm rồi chết. Hoảng hốt nàng tri hô lên. Quan chạy lại khám xét tử thi, thấy nhiều đốm đỏ loang khắp mình.


Thế là cô nọ bị bắt giam để xét hỏi vì tội bỏ thuốc độc giết người. Cô cứ một mực kêu oan. Cuộc tra tấn kéo dài, lần lần cô trở nên ốm o gầy mòn, gần chết trong ngục.


May sao, có ông quan Án đi qua. Quan Án hỏi cô:


- Đầu đuôi tự sự như thế nào? Mi phải khai rõ.


Cô nọ nói sự thật. Nghe xong, vị quan suy nghĩ, gật đầu. Ông đi ra ngoài vườn xem từng lá trầu trên nọc. Ông chú ý: mấy lá ở sát gốc đều dính một chất gì nhớt ngay chót đuôi lá, giống như là con ốc, con sên bò qua nhả nước miếng.


Nhưng không thấy con ốc, con sên nào cả!


Ông quá tức trí, ra lệnh đào dưới đất, ngay nọc trầu đào thật sâu, bỗng nghe tiếng khò khè. Rõ ràng là con thuồng luồng nằm khoanh trong hang. Dân chúng chạy tứ tán.


Ông quan nói:


- Con thuồng luồng này hàng đêm lén bò lên mặt đất để kiếm nước uống. Vì quá khát nước, nó phải liếm mấy giọt sương đọng ở chót đuôi mấy látrầu gần mặt đất. Nọc con thuồng luồng dính lại trên lá nên giết người. Cô gái này bị hàm oan.


Chòm xóm nhìn nhận lời vị quan nọ là chí lý, tài trí như Bao Công thuở trước. Từ đó về sau, trước khi têm trầu, ai nấy đều ngắt chót đuôi lá vì sợ nọc con thuồng luồng. Bây giờ, giống thuồng luồng không còn nữa nhưng thói quen của con người hãy còn...


Được sửa bởi ngày 22/1/2008, 9:54 pm; sửa lần 1.

go19932008
Quyền Trượng Hồng Ngọc
Quyền Trượng Hồng Ngọc

Tổng số bài gửi : 1021
Age : 23
Registration date : 23/12/2007

Xem lý lịch thành viên http://hoicovay.com

Về Đầu Trang Go down

Re: truyện VN Ở ĐÂY

Bài gửi by go19932008 on 22/1/2008, 4:32 pm


Hai Con Vật Có Nghĩa
Ngày
xưa có hai mẹ con anh chàng nghèo rớt mùng tơi. Anh lang thang đi
kiếm việc làm nhưng chả có ai thuê cả. Mãi sau, có một chủ thuyền buôn
khỏe mạnh, lại biết bơi lội nên mới thuê làm thủy thủ. Hắn hứa cho anh
cơm một ngày ba bữa và một năm bốn mươi quan tiền trả trước. Anh chàng
tưởng không có mừng nào hơn thế nữa, vội cầm ba mươi quan về cho mẹ
tiêu, còn mười quan thì mang theo định để dành may mặc.


Thuyền cất hàng, vượt biển luôn năm ngày đến một thị trấn. Trên bến kẻ bán người mua chen chúc như hội. Bọn thủy thủ bảo chàng:


- Ở đây thứ gì cũng buôn được. Cứ mua một ít đưa về quê nhà bán thì tự khắc có lãi.


Anh chàng xưa nay không quen mua bán nên cầm mười quan tiền trong tay,
chưa biết mua thứ hàng gì. Bỗng chốc anh thấy có một người mang ra bến
một con chó bị trói toan vứt xuống sông. Lấy làm thương, anh vội ngăn
lại và hỏi duyên cớ. Người ấy cho biết chó này là của chủ mình. Hôm nay
chủ đi chợ mua thịt về dọn tiệc, không rõ cất đặt thế nào để chó ăn vụng mất cả. Chủ tức giận trói chó đánh một trận thừa sống thiếu chết rồi sai đi buông sông. Nghe kể thế anh chàng xin mua lại chó. Người kia cười mà rằng:


- Nó chỉ chuyên môn ăn vụng, anh mua về làm gì?


Chàng đáp:


- Thây kệ, cứ bán cho tôi đi!


Cuối cùng anh chàng xỉa ra ba quan tiền mua lấy con chó, cởi trói cho nó, đoạn xích lại bên chỗ mình làm việc.


Sau đó một chốc, anh lại trông thấy một người đàn
bàmang một con mèo toan vứt xuống sông. Anh chàng ngăn lại và hỏi duyên
cớ. Khi biết tội trạng của mèo cũng chỉ là ăn vụng, anh nài để con vật cho mình. Thấy người đàn bà khuyên không nên mua thứ mèo xấu nết, anh không nghe và nói:


- Thây kệ! Chị cứ bán cho tôi đi!


Thế là cuối cùng mèo cũng thoát chết. Và người chủ mới của nó sau khi xỉa ra ba quan tiền để mua, đem buộc lại gần bên con chó.


Ngồi một mình trên thuyền, thấy buồn anh chàng bèn bỏ thuyền lên bộ đi dạo bờ sông. Bỗng chốc anh thấy có ba đứa trẻ chăn trâu bắt được một con rắn nước, toan dùng roi sử tội. Anh chàng vội chạy lại ngăn cản:


- Các em đừng đánh nó, nó là rắn nước, có làm hại ai đâu?


- Mặc kệ chúng tôi


- Bọn trẻ đáp. Chúng tôi bắt được nó, chúng tôi đánh, ông cản làm gì?


Thấy bọn chúng khăng khăng cố tình giết rắn, anh chàng lại dùng đến tiền để cứu con vật vô tội. Chúng đòi năm quan. Mãi sau anh mới bớt được một. Thế là số tiền mang theo lần lượt vơi đến hết. Mua được con rắn anh vội thảxuống sông cho nó trở về xứ sở. Bọn thủy thủ sau khi nghe anh kể lại những việc mua bán của mình, thì đều cười ngất, cho là một người khờ dại ít có. Anh chỉ ngồi lặng yên, không nói gì cả.


Khi thuyền bắt đầu trở về, vào khoảng nữa đêm, anh đang chèo bỗng thấy con rắn nước từ dưới sông bơi lên trao cho mình một viên ngọc mà nói:


- Cha tôi là Long Vương cảm ơn anh cứu mạng tôi, cho tôi đem biếu anh một viên ngọc "băng xuyên" để mời anh xuống chơi. Mang ngọc vào mình anh có thể đi được dưới nước cũng dễ dàng như đi trên bộ.


Được sửa bởi ngày 22/1/2008, 9:58 pm; sửa lần 1.

go19932008
Quyền Trượng Hồng Ngọc
Quyền Trượng Hồng Ngọc

Tổng số bài gửi : 1021
Age : 23
Registration date : 23/12/2007

Xem lý lịch thành viên http://hoicovay.com

Về Đầu Trang Go down

Re: truyện VN Ở ĐÂY

Bài gửi by go19932008 on 22/1/2008, 4:32 pm


Anh chàng nghe nói vội buông chèo đi theo con rắn nước xuống Thủy Phủ. Qủa nhiên, anh được Long Vương tiếp đãi rất hậu, tống tiễn ngọc vàng châu báu rất nhiều. Sau đó, anh được người của Long Vương đưa về đến tận nhà.


Chủ thuyền thấy mất hút anh, tưởng anh đã rơi xuống nước. Bèn đỗ thuyền lại, lên lộ trình với xã sở tại. Nhưng khi mọi người về đến quê hương thì họ rất lấy làm ngạc nhiên vì anh thủy thủ trẻ tuổi đã về đến nhà ba ngày trước rồi.


Từ đó, anh trở nên giàu có. Nhưng anh vẫn sống một cuộc đời bình thường với người mẹ già. Con chó, con mèo được anh cứu vẫn theo anh không rời. Về sau, anh lấy vợ. Vợ anh là một cô gái rất đẹp. Nàng rất thích đeo nữ trang. Thấy viên ngọc "băng xuyên" chiếu sáng một góc tủ, nàng thích lắm, nên một hôm ra tiệm kim hoàn, bảo đánh cho mình một chiếc nhẫn. Không ngờ, người thợ kim hoàn biết là ngọc quí ít có trong thế gian, bèn đi kiếm một viên khác tương tự như thế đánh tráo mà cướp lấy món bảo vật.


Khi biết rõ chuyện mất cắp thì anh chàng thủy thủ trở nên buồn bã. Hằng
ngày, anh ra bờ sông, mong tìm lại con rắn nước nhưng chả làm sao gặp được. Chó và mèo thấy chủ không vui, một hôm nói với chủ xin đi tìm viên ngọc.


Đường đến nhà thợ kim hoàn phải qua một con sông rộng. Không có cách gì để vượt cả, hai con vật cứ loanh quanh ở trên bờ. Về sau chúng nó tìm được vào nhà một con rái cá. Chúng kể sự tình cho rái cá nghe và nhờ nó đưa giúp qua sông. Rái cá vui lòng gọi các bạn bè của nó đứng sát vào nhau, kết thành một cái bè cho chó và mèo ngồi trên lưng, chở qua sông yên lành.


Khi đến nhà người thợ kim hoàn, mèo bảo chó:


- Để tao trèo lên nóc nhà kêu lên mấy tiếng cho những con chó trong nhà xúm lại sủa. Thế là mày cứ đường hoàng theo cổng mà vào, không ai biết.


Qủa nhiên, bầy chó của nhà người thợ kim hoàn nghe mấy tiếng mèo kêu vội vàng xông ra đuổi. Mèo dẫn chúng đi thật xa nên chó ta lẻn vào nấp dưới một cái hầm, vô sự.


Khi hai con vật gặp lại nhau, chúng tìm tòi khắp trong nhà. Tất cả của cải của lão kim hoàn đều bỏ trong một cái rương xe, luôn luôn khóa kín, không dễ gì lọt vào được. Mèo bèn cố sức tìm tòi, chụp bắt được một con chuột. Chuột van lạy xin tha mạng. Mèo bảo nó dẫn mình đi gặp chuột chúa đàn. Mèo nói rõ chuột chúa biết việc mình lấy cho được viên ngọc; đổi lại, mèo hứa sẽ không chạm đến tôn tộc nhà hắn. Chuột chúa đàn vâng dạ rối rít:


- Để tôi bảo lũ con cháu, tôi tớ trong nhàkhoét chiếc rương của nó ra, tìm cho các ông.


Nhưng đến khi lọt được vào rương, lũ chuột tìm mãi vẫn không thấy ngọc. Chuột chúa đàn ra báo lại cho mèo biết, và nói:


- Trong rương này có một cái hộp bằng bạc. Có lẽ nó giấu trong đó; cái hộp đó thì khó lòng mà gặm được.


- Vậy làm thế nào bây giờ? - mèo hỏi.


- Chỉ có cách là chúng tôi sẽ nhờ xóm giềng hợp sức cùng chúng tôi khoét rộng lỗ thủng làm sao đưa lọt cái hộp ra đây cho các ông tìm.


- Thế thì làm gấp đi!


Chỉ trong một đêm, cả xóm nhà chuột đã lấy được cái hộp đưa cho mèo. Hai con vật tìm cách phá hộp ra, quả thấy viên ngọc của chủ. Chúng vô cùng mừng rỡ.


Sau khi ra khỏi nhà người thợ kim hoàn, chó tranh mèo mang ngọc. Nhưng đến lúc sắp sửa sang sông, vì mắng nhau với một con chó khác, nên chó đã để ngọc văng xuống nước. Một con cá trông thấy ngọc sáng vội bơi tới đớp và nuốt ngay.


Thấy chó để mất ngọc, mèo giận quá, mắng chó một trận thậm tệ. Chó biết lỗi, lặng thing, cuối cùng mếu máo:


Được sửa bởi ngày 22/1/2008, 10:03 pm; sửa lần 1.

go19932008
Quyền Trượng Hồng Ngọc
Quyền Trượng Hồng Ngọc

Tổng số bài gửi : 1021
Age : 23
Registration date : 23/12/2007

Xem lý lịch thành viên http://hoicovay.com

Về Đầu Trang Go down

Re: truyện VN Ở ĐÂY

Bài gửi by go19932008 on 22/1/2008, 4:33 pm


- Biết làm sao bây giờ?


Suy nghĩ một lát, mèo tìm được một kế bảo chó:


- Chúng ta sẽ tìm đến một nhà thuyền chài ở vùng này xin ở với họ. Thế rồi chờ khi họ câu được con cá đã nuốt viên ngọc thì sẽ tìm cách cướp lấy đem về.


Chó khen mưu kế hay, bèn cùng mèo tìm đến một gia đình ông chài đang đỗ thuyền lại ở bờ sông phơi lưới. Hai con vật tỏ ra rất khôn ngoan, hiền lành nên được cả nhà đối đãi tử tế.


Mấy hôm sau, ông chài đánh mẻ lưới được một con cá chày rất lớn, mổ ruột ra, thấy có viên ngọc. Chó và mèo khấp khởi mừng thầm. Trong khi cả nhà đang trao ngọc cho nhau để xem của lạ, thì mèo tiến lại cọ vào người chủ. Nhân khi chủ sơ ý, nó nhảy lên ngoạm lấy viên ngọc và nhanh chóng cong đuôi nhảy lên bờ chạy mất. Thấy thế, chó cũng ba chân bốn cẳng chạy theo trước con mắt ngơ ngác của mấy bố con ông chài.


Lần này mèo tranh chó mang ngọc. Mèo lên mặt khôn bảo chó:


- Lần trước ngậm bị rơi mất, lần này có cách rất hay là đội lên đầu. Sắp đến nhà, chả sợ gì nữa.


Nó nói thế thì làm như thế.


Nào ngờ mới đi được một quãng đường, bấy giờ có một con quạ đang bay trên không trung, nhác thấy có cái gì lấp lánh trên đầu con mèo, thì thình lình sà xuống đớp lấy rồi bay lên đậu ở một cành cây cao. Thấy ngọc lại mất, chó đến lượt chửi mắng mèo rất dữ, rồi nói:


- Ngọc rơi xuống nước còn có thể lấy được, chứ bay lên trời thì đừng có hòng.


Mèo buồn rầu, nhưng ngẫm nghĩ một lát, nó lại bảo chó:


- Đúng rồi. Tao đã nghĩ ra được một kế.


Chó hỏi:


- Kế gì?


Mèo đáp:


- Gỉa chết bắt quạ.


Nói xong, mèo chạy xuống bờ sông uống một bụng nước đầy căng. Đoạn trở về xua chó trốn đi một chỗ, còn một mình thì tới nằm dưới gốc cây phơi bụng trắng hếu giả vờ chết.


Qụa đang ngậm ngọc, đậu trên cây cao nhìn thấy thoáng có bóng con vật chết vội vàng bay xuống toan rỉa thịt. Nhưng khi quạ vừa bay sáp lại thì mèo đã nhảy xổ lên vồ lấy quạ. Qụa van lạy xin trả lại viên ngọc cho mèo để được tha mạng. Mèo chỉ đợi có thế ngoạm lấy viên ngọc, ra đi.


Lần này, cả hai con đưa ngọc về đến nhà vẹn toàn. Anh chàng thủy thủ lấy lại được món tặng vật của Long Vương, hết sức vui mừng. Anh càng thêm quí mến con vật có tình có nghĩa.


Được sửa bởi ngày 22/1/2008, 10:07 pm; sửa lần 1.

go19932008
Quyền Trượng Hồng Ngọc
Quyền Trượng Hồng Ngọc

Tổng số bài gửi : 1021
Age : 23
Registration date : 23/12/2007

Xem lý lịch thành viên http://hoicovay.com

Về Đầu Trang Go down

Re: truyện VN Ở ĐÂY

Bài gửi by Sponsored content Today at 11:24 am


Sponsored content


Về Đầu Trang Go down

Trang 1 trong tổng số 3 trang 1, 2, 3  Next

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang

- Similar topics

 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết